vanban.org

Bản án 60/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Võ Hồng E đối với ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ. Buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ phải liên đới trả cho bà Võ Hồng E số tiền nợ hụi là 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hụi, họ, biêu, phường"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƢỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/DS-ST
Ngày: 26-6-2023
“V/v tranh chấp nợ hụi”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƢỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Kiệt

Các vị Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Tấn Liêm

Ông Nguyễn Văn Mầm

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023 tại Toà án nhân dân huyện Cái Nước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2023. Về việc “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Hồng E, sinh năm 1977 (Có mặt).

Cư trú: ấp N, xã Đ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ - Sinh năm 1979 (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Đ - Sinh năm 1981 (Vắng mặt).

Cùng trú: ấp N, xã Đ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn bà Võ Hồng E trình bày: Vào ngày 10 tháng 09 năm 2019 bà có làm chủ hụi, loại hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 01 lần, dây hụi gồm có 41 chân, vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Đ tham gia chơi 02 chân. Chưng thứ nhất hốt vào ngày 10 tháng 12 năm 2019, số tiền hốt được là 55.820.000 đồng. Chưng thứ hai hốt vào ngày 10 tháng 5 năm 2020, số tiền hốt được là 54.890.000 đồng. Sau khi hốt hụi ông Đ, bà Đ không đóng hụi chết. Ngày 22/4/2022 bà đã khởi kiện yêu cầu ông Đ, bà Đ trả hụi tới thời điểm tháng 5 năm 2022 thì ông Đ, bà Đ đồng ý trả cho bà số tiền 113.000.000 đồng. Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự với nội dung buộc ông Đ, bà Đ phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi tính đến ngày 22/4/2022 là 113.000.000 đồng, do các dây hụi này chưa mãn. Nay các dây hụi này đã mãn, từ tháng 4 năm 2022 đến nay ông Đ, bà Đ còn thiếu bà số tiền 36.000.000 đồng. Bà đã nhiều lần yêu cầu ông Đ và bà Đ trả số tiền còn lại nhưng ông Đ và bà Đ hứa hẹn nhiều lần cho đến nay vẫn không trả. Nay bà yêu cầu ông Đ và bà Đ trả cho bà số tiền nợ hụi còn thiếu là 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng).

Đối với ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án về yêu cầu của bà Võ Hồng E nhưng ông bà không có ý kiến. Tòa án thông báo để ông Đ và bà Đ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến lần thứ hai nhưng ông Đ và bà Đ vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa bà E với ông Đ và bà Đ được.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

[1] Xét quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn là bà Võ Hồng E với bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ là “Tranh chấp nợ hụi” được quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, bị đơn có địa chỉ tại ấp N, xã Đ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia hòa giải nhưng đều vắng mặt nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được, do đó Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Các phiên tòa sơ thẩm mở vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 31/5/2023; 07 giờ 30 phút ngày 26/6/2023 mặc dù bị đơn ông Nguyễn Văn Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét về nội dung tranh chấp của vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Vào ngày 10 tháng 09 năm 2019 bà E có làm chủ hụi, loại hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui hụi 01 lần, dây hụi gồm có 41 chân, vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị Đ tham gia chơi 02 chân. Chưng thứ nhất hốt vào ngày 10 tháng 12 năm 2019, số tiền hốt được là 55.820.000 đồng. Chưng thứ hai hốt vào ngày 10 tháng 5 năm 2020, số tiền hốt được là 54.890.000 đồng. Sau khi hốt hụi ông Đ, bà Đ không đóng hụi chết. Tại hồ sơ dân sự sơ thẩm thụ lý số 114/2022/TLST-DS ngày 22/4/2022 và Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 99/2022/QĐST-DS ngày 22/4/2022 thì ông Đ, bà Đ thừa nhận có tham gia chơi 02 chân hụi do bà E làm chủ, tính tới ngày 22/4/2022 ông Đ, bà Đ còn nợ bà E số tiền là 113.000.000 đồng. Do các dây hụi này chưa mãn nên bà E chỉ yêu cầu tiền hụi đến tháng 4 năm 2022. Nay các dây hụi này đã mãn, từ tháng 4 năm 2022 đến nay ông Đ, bà Đ còn thiếu bà số tiền 36.000.000 đồng. Như vậy việc ông Đ và bà Đ có tham gia chơi hụi do bà E làm chủ hụi và còn nợ bà E số tiền 36.000.000 đồng tiền hụi là thực tế có xảy ra. Nay bà E yêu cầu ông Đ và bà Đ liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi là 36.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[5] Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, ông Đ, bà Đ đã biết việc bà E khởi kiện và biết các tài liệu chứng cứ mà bà E cung cấp cho Tòa án nhưng ông Đ, bà Đ không có ý kiến phản đối hay đưa ra tài liệu chứng cứ gì để chứng minh về việc đã trả số tiền nợ hụi cho bà E hay chưa, nên việc bà E khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là có cơ sở chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự có giá ngạch là 1.800.000 đồng ông Đ và bà Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 26; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 357, 468, 471 Bộ luật dân sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Võ Hồng E đối với ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ.

Buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ phải liên đới trả cho bà Võ Hồng E số tiền nợ hụi là 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng).

Kể từ ngày bà Võ Hồng E có đơn yêu cầu thi hành án, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ không thi hành khoản tiền nêu trên thì ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.800.000 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật. Bà Võ Hồng E không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Bà Võ Hồng E có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 900.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008716 ngày 09 – 01 – 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước. Bà Võ Hồng E được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí nêu trên tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bà Võ Hồng E có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ