vanban.org

Bản án 60/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Ô Môn, TP. Cần Thơ Tuyên án 28/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Phạm Hoàng H có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 28/7/2023 là 71.745.609đồng (Bảy mươi mốt triệu, bảy trăm bốn mươi lăm nghìn, sáu trăm lẻ chín đồng), trong đó: vay tiêu dùng là 36.729.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "dân sự"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
QUẬN Ô MÔN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/DS-ST
Ngày: 28/7/2023
V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN - TP.CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Nguyễn Khánh Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Minh Khương

2. Bà Trần Thị Hồng Yến

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Như Ngọc, thư ký Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2023 tại Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2023/TLST – DS ngày 08 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2023/QĐXXST–DS ngày 12 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S

Trụ sở: Nam Kỳ, phường V, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D- Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Tấn Đ- Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP S- Chi nhánh C (văn bản ủy quyền số 1206/2021/GUQ.CNCT ngày 27/12/2021)

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Hồ Thanh L (văn bản ủy quyền số 77/2022/UQ-CNCT ngày 04/7/2022)

2. Bị đơn: Ông Phạm Hoàng H, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: khu vực Tân Xuân, phường Trường Lạc, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 29/5/2019 ông Phạm Hoàng H có ký hợp đồng tín dụng số LD1914900550 để vay Ngân hàng TMCP S số tiền 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng); thời hạn vay: 24 tháng (từ ngày 29/5/2019 đến ngày 29/5/2021); lãi suất: 20,4%/năm (góp đều); mục đích vay: tiêu dùng. Trong quá trình vay vốn ông Phạm Hoàng H đã thanh toán được 16 kỳ vốn và lãi với số tiền là 48.657.687đồng (trong đó: vốn 35.057.687đồng, lãi là 13.600.000đồng), ngày 06/08/2020 đến hạn góp vốn gốc và lãi nhưng ông H không có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Mặc dù đã qua nhiều lần đến làm việc, nhắc nhở nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Phạm Hoàng H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 16/8/2020 ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn lại sang nợ quá hạn.

Ngày 20/8/2019 ông Phạm Hoàng H có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh C – PGD B giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Phạm Hoàng H, ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Phạm Hoàng H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 15.900.000đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay ông Hà đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 8.245.036đồng. Do Phạm Hoàng H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 và Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng), ngày 22/5/2021 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 22/6/2022 ông H còn nợ ngân hàng tổng cộng là 57.171.715đồng, bao gồm các khoản như sau:

- Đối với hợp đồng tín dụng là 31.120.429đồng (trong đó: dư nợ 14.942.313đồng, lãi trong hạn 12.772.023đồng, lãi quá hạn 3.406.093đồng).

- Đối với thẻ tín dụng là 26.051.286đồng (trong đó: dư nợ 17.197.914đồng, lãi quá hạn 8.853.372đồng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng và giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng.

Nay nguyên đơn yêu cầu tòa án giải quyết buộc ông Phạm Hoàng H thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền nợ tính đến ngày 28/7/2023 là 71.745.609đồng (Bảy mươi mốt triệu, bảy trăm bốn mươi lăm nghìn, sáu trăm lẻ chín đồng), trong đó: vay tiêu dùng là 36.729.166đồng (vốn gốc: 14.942.313đồng, lãi trong hạn: 16.751.181đồng, lãi quá hạn: 5.035.672đồng) và thẻ tín dụng là 35.016.443đồng (nợ gốc: 17.197.914đồng, lãi quá hạn: 17.818.529đồng) cùng với lãi phát sinh tính từ ngày 29/7/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng và giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng.

Về phía bị đơn ông Phạm Hoàng H: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Hà vẫn vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án không thể cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho ông H được nên tiến hành thủ tục niêm yết thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử; giấy triệu tập đối với bị đơn theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông Phạm Hoàng H thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 28/7/2023 là 71.745.609đồng (Bảy mươi mốt triệu, bảy trăm bốn mươi lăm nghìn, sáu trăm lẻ chín đồng), trong đó: vay tiêu dùng là 36.729.166đồng và thẻ tín dụng là 35.016.443đồng cùng lãi phát sinh tính từ ngày 29/7/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng và giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng.

Bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ theo hợp đồng tín dụng nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng dân sự giữa pháp nhân với cá nhân được pháp luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về thủ tục tố tụng: căn cứ vào kết quả xác minh của Công an phường T, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xác định: “Ông Phạm Hoàng H, sinh năm 1987 đăng ký thường trú tại khu vực T, phường T, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ” nhưng Tòa án không thể tống đạt văn bản tố tụng đối với ông Hà được nên Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử; giấy triệu tập đối với bị đơn và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là hợp đồng tín dụng số LD1914900550 ngày 29/5/2019; giấy nhận nợ số LD1914900550 ngày 29/5/2019; giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1332603 ngày 10/58/2019 cho thấy giữa nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng tín dụng để vay 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng), lãi suất vay là 20,4%/năm, thời hạn vay 24 tháng và hợp đồng sử dụng thẻ, hạn mức tín dụng là 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng), mục đích vay tiêu dùng cá nhân, lãi suất 31,2%/năm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông H đã thanh toán được 16 kỳ vốn và lãi với số tiền là 48.657.687đồng (trong đó: vốn 35.057.687đồng, lãi là 13.600.000đồng), đến ngày 06/08/2020 thì ngưng không tiếp tục trả nợ cho ngân hàng; từ ngày kích hoạt thẻ tín dụng ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 15.900.000đồng và đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 8.245.036đồng. Đến ngày 22/5/2021 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện là có cơ sở.

Về án phí: bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 385; Điều 398; Điều 401 Bộ luật dân sự năm 2015

- Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Phạm Hoàng H có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 28/7/2023 là 71.745.609đồng (Bảy mươi mốt triệu, bảy trăm bốn mươi lăm nghìn, sáu trăm lẻ chín đồng), trong đó: vay tiêu dùng là 36.729.166đồng (vốn gốc: 14.942.313đồng, lãi trong hạn: 16.751.181đồng, lãi quá hạn: 5.035.672đồng) và thẻ tín dụng là 35.016.443đồng (nợ gốc: 17.197.914đồng, lãi quá hạn: 17.818.529đồng) và lãi phát sinh tính từ ngày 29/7/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng và giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng.

Phương thức thanh toán nợ giữa các bên do cơ quan thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ giải quyết theo thẩm quyền.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn phải nộp 3.587.000đồng (Ba triệu, năm trăm tám mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.430.000đồng (Một triệu, bốn trăm ba mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003530 ngày 26/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ