- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Phát Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2022/HS-ST Ngày: 20/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Trình.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hổ
2. Bà Dương Thị Thanh Thúy
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2022/TLST-HS ngày 23/5/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:
Võ Phát Đ, sinh năm 1991 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Số 298/89D đường T, khu phố B, phường A, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thành Ph, sinh năm: 1955 (đã chết) và bà Ma Thị L, sinh năm: 1964; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 10/08/2010, bị Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Ngày 27/06/2013, bị Công an thành phố Bến Tre ra quyết định xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 20/03/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 tội là 03 năm 06 tháng tù. Ngày 31/07/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với Bản án số 33/2015/HSPT ngày 20/03/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 05 năm tù. Ngày 25/01/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với Bản án số 74/2015/HSST ngày 31/07/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 05 năm 09 tháng tù (chấp hành xong bản án ngày 10/03/2019);
Biện pháp ngăn chăn: bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 24/03/2022 cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ma Thị L, sinh năm 1964, nơi cư trú: Số 298/89D đường T, khu phố B, phường A, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
- Người làm chứng:
1. Lê Thế A, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số 1/5B, khu phố B, phường A, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
2. Nguyễn Phương T, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số 82/24, khu phố B, phường A, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 05/01/2022, lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Công an tỉnh Bến Tre tuần tra trên đường Lê Quý Đôn đến khu vực trước cổng trường THCS thành phố Bến Tre thuộc phường A, thành phố Bến Tre thì phát hiện Võ Phát Đ đứng bên cạnh xe gắn máy biển số 71FL-6607 của Đ đang dừng xe trên vỉa hè có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trong rổ xe gắn máy biển số 71FL-6607 của Đạt có 01 túi nylon hàn kín 3 phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01 đoạn ống nhựa màu trắng sọc trắng hàn kín 01 đầu, 01 đầu hở bên trong rỗng, 01 gói thuốc lá hiệu Scott, 01 chai nhựa hiệu ionlife màu trắng và 01 quẹt ga màu vàng. Ngoài ra, lực lượng Công an còn phát hiện trên nên gạch vỉa hè gần xe gắn máy biển số 71FL-6607 01 bơm kim tiêm bên trong chứa chất lỏng màu trắng nên tiến hành lập biên bản sự việc và thu giữ tang vật.
Vật chứng thu giữ:
- 01 túi nylon hàn kín 3 phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M).
- 01 bơm kim tiêm bên trong chứa chất lỏng màu trắng (sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu K).
Hai phong bì niêm phong ký hiệu M, K có chữ ký ghi tên Võ Phát Đ, Nguyễn Phương T, Lê Thế A, Phan Nghĩa Th, Nguyễn Văn Th và hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường An Hội, thành phố Bến Tre.
- 01 chai nhựa hiệu ionlife màu trắng.
- 01 đoạn ống nhựa màu trắng sọc hàn kín 01 đầu, 01 đầu hở bên trong rỗng.
- 01 xe gắn máy biển số 71FL-6607.
Qua làm việc, Võ Phát Đ khai nhận: Túi nylon có chứa tinh thể màu trắng và ống bơm kim tiêm bên trong có chứa chất lỏng màu trắng mà công an thu giữ là ma túy của Đ, Đ có được là do khoảng 20 giờ ngày 05/01/2022, Đ đến Phường 5, thành phố Bến Tre mua của đối tượng tên V (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) 300.000 đồng ma túy đá và 100.000 đồng ma túy loại heroin đem về để sử dụng. Khi đến khu vực trước cổng trường THCS thành phố Bến Tre, Đ lấy một ít ma túy đá và 01 tép heroin pha với nước rồi dùng ống bơm kim tiêm để chuẩn bị sử dụng ma túy thì thấy lực lượng Công an đến kiểm tra nên Đ vứt bơm kim tiêm xuống vỉa hè, còn số ma túy đá còn lại để trên rổ xe nhưng bị lực lượng Công an phát hiện thu giữ như trên.
Theo Bản kết luận giám định số 11/2022/GĐMT ngày 01/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nylon được niêm phong trong phong bì, ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng 0,7843 gam.
Theo Bản kết luận giám định số 791/KL-KTHS ngày 15/03/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh – Bộ Công an kết luận: Chất lỏng đựng trong 01 bơm tiêm được niêm phong gửi giám định là ma túy, thể tích: 01 ml, loại Methamphetamine và Heroine. Hàm lượng Methamphetamine: 42,78%, hàm lượng Heroine: 48,99%.
Quá trình điều tra, Võ Phát Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với biên bản sự việc, lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ khác đã thu thập được. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Bến Tre đã trả lại xe gắn máy biển số 71FL-6607 cho bà Ma Thị L là chủ sở hữu.
Tại cáo trạng số 45/CT-VKSTPBT ngày 23/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo Võ Phát Đ về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:
+ Về hình phạt chính: áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng.
+ Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:
- Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 11/2022 có chữ ký ghi tên Phan Nghĩa Th, Phan Trung Tr và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre.
- 01 chai nhựa hiệu ion life màu trắng.
- 01 đoạn ống nhựa màu trắng sọc hàn kín 01 đầu, 01 đầu hở bên trong rỗng.
Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre trả lại 01 xe gắn máy biển số 71FL-6607 cho bà Ma Thị L.
- Bị cáo khai nhận khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 05/01/2022 trên đường Lê Quý Đôn đến khu vực trước cổng trường THCS thành phố Bến Tre thuộc phường An Hội, thành phố Bến Tre bị cáo đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị công an phát hiện nên bị cáo đã vứt 01 bơm kim tiêm bên trong chứa ma túy trên nên gạch vỉa hè gần xe gắn máy biển số 71FL-6607. Công an phát hiện trong rổ xe gắn máy biển số 71FL-6607 của Đạt có 01 túi nylon hàn kín 3 phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01 đoạn ống nhựa màu trắng sọc trắng hàn kín 01 đầu, 01 đầu hở bên trong rỗng, 01 gói thuốc lá hiệu Scott, 01 chai nhựa hiệu ionlife màu trắng và 01 quẹt ga màu vàng của bị cáo. Bị cáo thừa nhận số ma túy bị phát hiện là của bị cáo mua để sử dụng chứ không có mua bán. Bị cáo đồng ý kết quả giám định về loại mà trọng lượng ma túy. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ma Thị L trình bày: Bà là mẹ của bị cáo, xe gắn máy biển số 71FL-6607 là của bà, bà không biết bị cáo sử dụng xe này để đi mua ma túy về sử dụng. Bà đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo Võ Phát Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 20 giờ 40 phút, ngày 05/01/2022, tại khu vực trước cổng trường THCS thành phố Bến Tre thuộc phường An Hội, thành phố Bến Tre, Võ Phát Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,7843 gam ma túy, loại Methamphetamine và 01 ml, loại Methamphetamine và Heroine, hàm lượng Methamphetamine: 42,78%, hàm lượng Heroine: 48,99% để sử dụng.
Bị cáo là người có đủ năng lực nhận biết việc cất giấu ma túy là bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn mua và cất giấu ma túy loại Methamphetamine và Heroine để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường của con người, gây tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự nơi bị cáo thực hiện tội phạm, nguyên nhân phát sinh các tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản và tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Lời phát biểu luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre trả lại 01 xe gắn máy biển số 71FL-6607 cho bà Ma Thị L.
Tịch thu tiêu hủy:
- Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 11/2022 có chữ ký ghi tên Phan Nghĩa Th, Phan Trung Tr và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre.
- 01 chai nhựa hiệu ion life màu trắng.
- 01 đoạn ống nhựa màu trắng sọc hàn kín 01 đầu, 01 đầu hở bên trong rỗng.
Về án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Võ Phát Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Võ Phát Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù;
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- Mẫu vật ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 11/2022 có chữ ký ghi tên Phan Nghĩa Th, Phan Trung Tr và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre.
- 01 chai nhựa hiệu Ion liife màu trắng.
- 01 đoạn ống nhựa màu trắng sọc trắng hàn kín 01 đầu, 01 đầu hở bên trong rỗng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2022, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre quản lý).
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Võ Phát Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo trong hạn (15) mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Cơ quan điều tra CATP Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS CATP Bến Tre (1b); - Chi cục THADS thành phố Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND P. An Hội, TP. Bến Tre (1b); - Bị cáo; NCQLNVLQ (2b); - Bộ phận thi hành án Hình sự (3b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Trình |