vanban.org

Bản án 60/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 21/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 330, điểm i, q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn M 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn M Phạm tội chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK
–––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2022/HS-ST
Ngày 21 - 11 - 2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Thuấn.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Văn Lam

Ông: Y Míp Niê

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Bùi - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2022/HSST-QĐ ngày 28 tháng 10 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 21/2022/HSST-QĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Văn M - Sinh ngày: 10/9/1974, tại tỉnh Bắc K; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi ở trước khi phạm tội: Thôn Tam L, xã Ea T, huyện Krông N, tỉnh Đắk L; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: T; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nông Văn L (đã chết); Họ tên mẹ: Dương Thị M (đã chết); Vợ: Triệu Thị L, sinh năm 1975; Con: 02 con (lớn nhất sinh năm 1996 nhỏ nhất sinh năm 1997).

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo Nông Văn M bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/6/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những ngƣời tham gia tố tụng khác:

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Ông La Văn T - Văn phòng luật sư La M - thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đắk L.(Có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Triệu Thị L (vợ của bị cáo) - sinh năm 1975. Trú tại: Thôn Tam L, xã Ea T, huyện Krông N, tỉnh Đắk L (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn P, sinh năm: 1988 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: 29 Y, phường An B, thị xã Buôn H, tỉnh Đắk L.

2. Ông Hồ Văn T, sinh năm: 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 07 Phan Đăng L, thị trấn Krông N, huyện Krông N, tỉnh Đắk L.

3. Ông Hoàng Văn Đ, sinh năm: 1991 (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn Tam T, xã Ea T, huyện Krông N, tỉnh Đắk L.

Người làm chứng: Ông Đinh Xuân T, sinh năm: 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Xuân H, xã Ea Đ, huyện Krông N, tỉnh Đắk L

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/4/2022 Nông Văn M mượn xe mô tô hiệu Vision, BKS: 47E1-286.75 của con rể là Hoàng Văn Đ đi thăm bạn ở xã Ea S, huyện Ea K, tỉnh Đắk L. Tại nhà bạn M đã uống nhiều rượu rồi điều khiển xe mô tô về nhà tại xã Ea T.

Khoảng 16 giờ 50 phút Nông Văn M trên đường về đến thôn Xuân H, xã Ea D, huyện Krông N thì gặp Tổ công tác Công an giao thông huyện Krông N đang làm nhiệm vụ tuần tra, thấy M có biểu hiện vi phạm đồng chí Hồ Văn T và Nguyễn Văn P là thành viên của tổ công tác đã yêu cầu dừng xe kiểm tra. Khi phát hiện Nông Văn M vi phạm nồng độ cồn là 0.134mg/L và không có giấy phép lái xe, đồng chí Nguyễn Văn P yêu cầu Mao sang bên kia đường chỗ đỗ xe mô tô để lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực giao thông đường bộ, M đi bộ theo anh Ph, vừa đi M vừa cãi và có những lời lẽ đe dọa như: “…tao có con là Công an, tao nói con tao đến bắt mày nhưng giờ tao đánh mày đã… ”. Sau đó M dùng tay phải đấm nhiều cái trúng vào vành mũ bảo hiểm của đồng chí Ph đang đội. đồng chí Ph dùng tay gạt đỡ làm M ngã xuống đường, M tiếp tục chạy sang lề đường bên kia nhặt lấy một cục đá đánh trúng vào mũ bảo hiểm đồng chí Ph làm cục đá rơi xuống đường, đồng chí Ph nhặt cục đá và vứt vào lề đường. M chạy đến lề đường nhặt lại cục đá định đánh đồng chí Ph nên bị đồng chí Ph xông đến ôm lại. Lúc này, anh Đinh Hồng Th, trú tại thôn Xuân H, xã Ea D đến giúp anh Ph lấy cục đá từ tay M vứt đi. Sau đó, đồng chí Ph và anh Th thả M ra, M tiếp tục có những lời nói đe dọa, dùng tay đánh đồng chí Ph nhưng không trúng. M chạy đến chỗ đồng chí Tr đang quay video cãi nhau và xé áo phản quang đồng chí Tr đang mặc, dùng tay đập vào xe mô tô chuyên dụng. Sau đó, M chạy sang lề đường đối diện lấy một cục đá khác có kích thước (5 x 7)cm rồi tiếp tục quay lại giơ cục đá về phía đồng chí Ph đe dọa liền bị đồng chí Ph, đồng chí Tr và người dân khống chế.

Vật chứng của vụ án: 01 cục đá màu xanh đen, kích thước 9 x 8 x 4,5cm; 01 cục đá màu vàng, kích thước 13 x 9 x 9 cm.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 209/KLGĐ ngày 27/9/2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây nguyên kết luận: Trước, trong, sau ngày 07/4/2022 và hiện tại Nông Văn M: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi

Bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 20 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông N, tỉnh Đắk L truy tố bị cáo Nông Văn M về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm i, q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận gì mà xin được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội sửa chữa trở thành công dân có ích cho xã hội.

Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận: Về tội danh đồng quan điểm về việc truy tố theo cáo trạng và điều khoản áp dụng của đại diện viện kiểm sát, tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 51 và Điều 65 cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 07/4/2022, Nông Văn M điều khiển xe mô tô BKS: 47E1-286.75 từ xã Ea S, huyện Ea K về nhà tại xã Ea T, khi về đến thôn Xuân H, xã Ea D, huyện Krông N thì gặp Tổ công tác Công an giao thông huyện Krông N đang làm nhiệm vụ tuần tra, thấy M có biểu hiện vi phạm đã yêu cầu dừng xe kiểm tra. Khi phát hiện Nông Văn M vi phạm nồng độ cồn là 0.134mg/L và không có giấy phép lái xe, đồng chí Nguyễn Văn Ph là thành viên của tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thì bị Nông Văn M có hành vi dùng đá đánh và cản trở đồng chí Ph. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện rõ..Vì vậy hành vi của Nông Văn M phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ ” quy định tại khoản 1 Điều 330 bộ luật Hình sự

Khoản 1 Điều 330 BLHS qui định:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tới trật tự quản lý hành chính nhà nước, gây cản trở đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, do đó cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, là cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức trước và sau khi phạm tội, thành khẩn khai báo, là người dân tộc thiểu số nhận thức về pháp luật còn hạn chế, được quy định tại điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng để cân nhắc, giảm cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát về việc không áp dụng tình tiết giảm nhẹ là điểm h khoản 1 Điều 51, Điều 65 cho bị cáo được hưởng án treo theo luật sư đề nghị. HĐXX xét thấy quan điểm của Viện kiểm sát có căn cứ, do đó không chấp nhận yêu cầu áp dụng điểm h khoản 1 Điều 51, Điều 65 BLHS của luật sư.

Về xử lý tang vật: Tịch thu tiêu hủy 01 cục đá màu xanh đen, kích thước 9 x 8 x 4,5cm; 01 cục đá màu vàng, kích thước 13 x 9 x 9cm là tang vật vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 330, điểm i, q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nông Văn M 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 02 cục đá là tang vật vụ án không có giá trị sử dụng.(Đặc điểm tang vật như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/10/2022 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Năng).

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ