vanban.org

Bản án 60/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 23/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2022 đến ngày 09/09/2022. * Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lê văn chung - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2022/HS-ST

Ngày 23/9/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đô và bà Trần Thị Gấm.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lâm Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Đạt, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2022/HSST ngày 09 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2022/QĐXXST - HS ngày 12/9/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn C, sinh năm 2000 tại tỉnh Đăk Lăk; Trú tại: Thôn 02, xã Nâm N, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm Nông; Con ông Lê Văn B, sinh năm 1973 và bà Đinh Thị Thúy H, sinh năm 1975; Tiền sự: Không; Tiền án: (01): Ngày 28/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Song xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong bản án ngày 01/01/2022; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/6/2022 đến ngày 09/09/2022 được Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Song thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh; Bị cáo đang tại ngoại– Có mặt tại phiên tòa.

1. Người bị hại: Anh Trần Văn Q, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn 08, xã Trường X, huyện Đăk S, tỉnh Đăk Nông – vắng mặt.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Văn B, sinh năm 1973. Địa chỉ: Thôn 02, xã Nâm N, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 26/6/2022, Lê Văn C điều khiển xe máy hiệu YAMAHA EXITER màu trắng xanh, BKS 48B1-05838 của bố là Lê Văn B đi tìm tài sản của người dân nào để sơ hở thì trộm cắp. Khi đi ngang khu vực rẫy nhà anh Trần Văn Q, ở thôn 8, xã Trường X, huyện Đăk S, C phát hiện có 01 đoạn dây xịt thuốc sâu màu vàng đang nằm trên mặt đất. C dừng xe lại bên lề đường, đi bộ theo đoạn dây này vào khu vực nhà rẫy khoảng 300 mét thì phát hiện 01 đầu máy xịt thuốc sâu màu vàng, không nhãn hiệu và 01 đầu máy nổ thân máy màu xanh lá cây, bình xăng màu trắng, trên thân máy có ghi chữ: HUTO HT-200 đang được gắn cố định bằng các ốc vít trên một khung sắt có gắn 02 (hai) bánh. Do không có dụng cụ tháo gỡ nên C quay lai xe máy lấy trong cốp xe 01 chiếc Cà lê 13 và 01 tuýp bugi rồi quay lại tháo rời đầu máy nổ và đầu xịt thuốc sâu. Sau khi tháo được tài sản trộm cắp, C đã bỏ những tài sản này vào bao mà C nhặt được tại khu vực nương rẫy gần đó, rồi khiêng số tài sản trộm cắp được để lên trước yên xe máy điều khiển đi về hướng quốc lộ 14 để tìm nơi tiêu thụ. Khi đến cửa hàng điện Cơ “Thanh Duy” tại bon Jang Pây III, xã Trường X, huyện Đắk S, tỉnh Đắk Nông, thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ người và tang vật.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 29/KL – HĐĐGTS ngày 29/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đăk Song kết luận: 01 đầu máy nổ, thân máy màu xanh lá cây, bình xăng màu trắng, trên thân máy có ghi chữ: HUTO HT-200 có giá trị còn lại là 587.000 đồng; 01 đầu máy xịt thuốc sâu, màu vàng, không nhãn hiệu có giá trị còn lại là 660.000 đồng, tổng số tiền là 1.247.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKS-ĐS ngày 09/9/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận VKSND huyện Đăk Song truy tố bị cáo là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo 07 đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS, đề nghị đối với 01 Tuýp Bugi làm bằng kim loại; 01Cà lê 13 làm bằng kim loại. Đây là công cụ bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe máy hiệu YAMAHA EXITER màu trắng xanh, BKS 48B1-05838. Quá trình xác minh xác định chiếc xe trên của ông Lê Văn B là bố của bị cáo. Ông B cho Lê Văn C mượn xe đi lại, sau đó C sử dụng chiếc xe thực hiện hành vi phạm tội mà ông B không biết, do đó cần trả lại cho ông B. Đối với 01 đầu máy xịt thuốc sâu màu vàng, không nhãn hiệu và 01 đầu máy nổ thân máy màu xanh lá cây, bình xăng màu trắng, trên thân máy có ghi chữ: HUTO HT-200. Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Văn Q.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 26/6/2022, bị cáo điều khiển xe máy hiệu YAMAHA EXITER màu trắng xanh, BKS 48B1-05838 của bố là Lê Văn B đi ngang khu vực rẫy nhà anh Trần Văn Q, ở thôn 8, xã Trường X, huyện Đăk S trộm cắp 01 đầu máy xịt thuốc sâu màu vàng, không nhãn hiệu và 01 đầu máy nổ thân máy màu xanh lá cây, bình xăng màu trắng, trên thân máy có ghi chữ: HUTO HT-200 đang được gắn cố định bằng các ốc vít trên một khung sắt có gắn 02 (hai) bánh trị giá là 1.247.000 đồng. Ngày 28/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Song xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà tiếp tục vi phạm. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

......................................

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.

Xét hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Trước khi phạm tội, bị cáo đã có tiền án nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo nhận thức được tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ, nhưng do ý thức coi thường pháp luật bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi này làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo gây thiệt hại không lớn. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu xét thấy, đây là ý chí tự nguyện đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận không đề cập giải quyết.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với 01 Tuýp Bugi làm bằng kim loại; 01Cà lê 13 làm bằng kim loại. Đây là công cụ bị cáo dùng thực hiện hành phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe máy hiệu YAMAHA EXITER màu trắng xanh, BKS 48B1-05838. Quá trình xác minh xác định chiếc xe trên của ông Lê Văn B là bố của bị cáo. Ông B cho bị cáo mượn xe đi lại, bị cáo sử dụng chiếc xe thực hiện hành vi phạm tội ông B không biết do đó cần trả lại cho ông B.

Đối với 01 đầu máy xịt thuốc sâu màu vàng, không nhãn hiệu và 01 đầu máy nổ thân máy màu xanh lá cây, bình xăng màu trắng, trên thân máy có ghi chữ: HUTO HT-200. Những tài sản này là của anh Trần Văn Q nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/6/2022 đến ngày 09/09/2022.

* Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tiêu hủy 01 tuýp Bugi làm bằng kim loại; 01Cà lê 13 làm bằng kim loại.

Tuyên trả 01 xe máy hiệu YAMAHA EXITER màu trắng xanh, BKS 48B1-05838 cho ông Lê Văn B là chủ sở hữu hợp pháp.

Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Văn Q 01 đầu máy xịt thuốc sâu màu vàng, không nhãn hiệu và 01 đầu máy nổ thân máy màu xanh lá cây, bình xăng màu trắng, trên thân máy có ghi chữ: HUTO HT-200.

(Đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng thể hiện ngày 20/9/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Song).

* Về án phí: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Văn C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những nội dung liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ