vanban.org

Bản án 60/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn L1 phạm Tội trộm cắp tài sản.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hứa Văn L1 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Văn L1 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn L1 phạm Tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2022/HS-ST
Ngày 27 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nông Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tô Thị Lợi

Ông Hoàng Đức Huân.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Mã Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Hứa Văn L1 (tên gọi khác: Không); sinh ngày 05/10/1992 tại huyện C, tỉnh L; nơi cư trú: Thôn B, xã C1, huyện C, tỉnh L; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Hứa Văn Đ và bà Hoàng T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án số: 97/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/2021, chưa chấp hành phần bồi thường dân sự (chưa được xóa án tích). Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 01/QĐXPHC ngày 10/8/2022 bị cáo bị Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đã được xóa), đã bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/6/2022 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Bà Hứa Thị T1, sinh năm 1977, địa chỉ: Tổ E, khối F, thị trấn C2, huyện C, tỉnh L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 18/6/2022, Hứa Văn L1 đón xe khách đi từ nhà ra thị trấn C2, huyện C để chơi. Sau khi xuống xe, Hứa Văn L1 đi bộ từ ngã ba chợ C3 theo đường Lục G để sang ngã tư H. Khi đi qua trước cửa nhà bà Hứa Thị T1 tại: Khối F, thị trấn C2, huyện C, tỉnh L, Hứa Văn L1 nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen trắng, biển kiểm soát: 12P1- 042.19 của bà Hứa Thị T1 dựng trước cửa nhà, chìa khóa vẫn cắm ở ổ điện, quan sát xung quanh không có người, Hứa Văn L1 nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe trên. Hứa Văn L1 tiến đến ngồi lên xe, mở khóa điện, nổ máy và điều khiển chiếc xe ra thành phố S. Trên đường đi để tránh bị phát hiện, Hứa Văn L1 mua 01(một) lọ sơn xe màu đen và di chuyển xe từ thành phố S theo hướng Quốc lộ E1 để lên thị trấn Đ, huyện C, tỉnh L. Hứa Văn L1 tìm chỗ vắng, ít người qua lại rồi dùng lọ sơn màu đen sơn hết phần màu trắng của xe rồi tháo biển số vứt đi. Sau đó, Hứa Văn L1 sử dụng chiếc xe trên là phương tiện đi lại hàng ngày. Đến ngày 28/6/2022, Hứa Văn L1 điều khiển chiếc xe trên về thôn N, xã M, huyện C, tỉnh L thì bị lực lượng Công an xã C1, huyện C, tỉnh L phát hiện bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen sơn không có biển kiểm soát, số khung 5212CY439270, số máy JC52E4345647; 01 (một) chìa khóa xe máy.

Tại Kết luận định giá số: 34/KL-HĐĐGTS ngày 29/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cao Lộc kết luận: “ Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12P1-042.19 nhãn hiệu HONDA WAVE, màu sơn trắng - đen, đã qua sử dụng có giá trị 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm nghìn đồng)".

Bản Cáo trạng số: 54/CT-VKS ngày 08/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hứa Văn L1 về Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Hứa Văn L1, khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Mục đích bị cáo trộm cắp tài sản là để làm phương tiện đi lại.

Bị hại bà Hứa Thị T1 vắng mặt, nhưng lời khai tại Cơ quan điều tra bà trình bày: Khoảng 09 giờ ngày 18/6/2022, sau khi tôi đi chợ về nhà bằng xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE biển kiểm soát 12P1- 042.19 tôi đỗ xe trước cửa nhà để mang đồ vào nhà, tuy nhiên do tôi quên rút chìa khóa xe nên chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa, khi tôi vừa bê đồ vào nhà được khoảng 05 phút thì tôi nghe thấy tiếng xe máy nổ nên tôi quay ra xem thì phát hiện một nam thanh niên đang nổ xe máy của tôi, tôi chạy ra nhưng không kịp, nam thanh niên đã lên xe và phóng xe đi mất. Ngày 19/7/2022, tôi đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe. Tôi không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì cho tôi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn L1 phạm Tội trộm cắp tài sản.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Hứa Văn L1 từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo không có việc làm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Hứa Thị T1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen sơn không có biển kiểm soát, số khung 5212CY439270, số máy JC52E4345647; 01 (một) chìa khóa xe máy. Ngày 19/7/2022, bị hại bà Hứa Thị T1 đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và rất hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng, giải thích hướng dẫn các bị cáo về quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý, quyền nhờ người bào chữa theo quy định. Các quyết định, hành vi tố tụng đã được thực hiện là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người bị hại bà Hứa Thị T1 vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại khoản 2 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ được, phù hợp với Kết luận định giá tài sản và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 18/6/2022, tại trước cửa nhà bà Hứa Thị T1 ở khối F, thị trấn C2, huyện C, tỉnh L, bị cáo Hứa Văn L1 đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12P1-042.19 nhãn hiệu HONDA WAVE của bà Hứa Thị T1. Kết luận định giá tài sản trị giá 4.200.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo về Tội trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Để có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như sau:

Về nhân thân: Bị cáo đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị xử phạt vi phạm hành chính, nên xác định bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Bản án số: 97/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/2021, chưa bồi thường phần dân sự (chưa được xóa án tích). Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng muốn có muốn lấy tài sản của người khác để sử dụng cho cá nhân nên cố ý thực hiện hành vi trộm cắp, bản thân bị cáo đã bị xét xử về Tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện tội phạm, như vậy thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật. Bởi vậy, căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội , nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án tù giam mới có đủ điều kiện giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo biên bản xác minh có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thể hiện: Bị cáo Hứa Văn L1 không có việc làm. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại bà Hứa Thị T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì vì tài sản đã được Cơ quan điều tra trả lại. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen sơn không có biển kiểm soát, số khung 5212CY439270, số máy JC52E4345647; 01 (một) chìa khóa xe máy. Ngày 19/7/2022, Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe cho bị hại bà Hứa Thị T1. Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo bị kết án. Do đó, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, khoản 2 Điều 292, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hứa Văn L1 phạm Tội trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt:

+ Xử phạt bị cáo Hứa Văn L1 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 29/6/2022.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ