- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÝ VĂN P Đ173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2022/HS-ST Ngày: 26-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Tám
Ông Nguyễn Thanh An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Trên – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2022/HSST ngày 10 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Lý Văn P, tên gọi khác: không, sinh năm 1993 tại Cà Mau. Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Số 51 N, phu phố 8, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý P, sinh năm 1955 và bà Dương Thị H, sinh năm 1961; bản thân có vợ tên Trần Thị N, có 01 người con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2022 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Công ty cổ phần thép Việt Thành L.
Địa chỉ: Ấp V, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thành Tr1, sinh năm 1982.
ĐKTT: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thị Nguyên, sinh năm 1993
ĐKTT: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở: Số 51 N, phu phố 8, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 14/3/2022, Lý Văn P là công nhân Công ty thép Việt Thành L, địa chỉ ấp V, xã L, huyện B, trong lúc đi làm ca đêm tại kho xưởng D3 của công ty, do buồn ngủ nên P đi tìm chỗ để mắc võng nằm ngủ. Khi đi ngang qua nhà kho D2 cách chỗ P làm khoảng 10m, P quan sát thấy bên trong nhà kho có để một số cuộn dây cáp điện loại CV 150 hiệu CADIVI, không người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp dây cáp điện bán lấy tiền tiêu xài. P quay lại chỗ làm lấy 01 cưa tay, 01 con dao thái lan và 01 con dao cắt giấy của P. Sau đó P đến kho D2 dùng cưa tay cưa 01 đoạn dây cáp dài 32m, rồi cưa ngắn lại thành 04 đoạn mỗi đoạn dài 08m và dùng dao cắt giấy cắt phần vỏ nhựa bên ngoài để lấy lõi đồng, tiếp tục P dùng 01 cái võng bằng vải quấn số lõi đồng lại và đem ra phía sau tường rào công ty nhét vào lỗ hổng cùng với bịch nilong đựng cưa, dao thái lan và dao cắt giấy ra bên ngoài khuôn viên của công ty. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 15/3/2022, P điều khiển xe mô tô biển số 69D1- 464.72 của P đến chỗ tường rào nơi P cất giấu số tài sản đã trộm rồi chất lên xe mô tô chở đi tìm nơi tiêu thụ, chạy được một đoạn thì bị lực lượng Công an xã LH bắt quả tang cùng tang vật.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 17/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bến Lức, tiến hành định giá và kết luận: 01 đoạn dây cáp hiệu CV 150 CADIVI, dài 32m (chưa qua sử dụng), đã cắt thành 04 đoạn, mỗi đoạn dài 08m và cắt bỏ vỏ nhựa bên ngoài dây cáp còn lại lõi dây đồng bên trong, tổng trọng lượng 04 lõi dây đồng là 69kg, trị giá là 9.660.000đ.
Tại cáo trạng số 50/CT-VKSBL ngày 10-6-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Lý Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn P hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Lý Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội đúng pháp luật, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 như cáo trạng của viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo là đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có bà ngoại Lý Thị Ên có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, do đó cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lý Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt:
Bị cáo Lý Văn P từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời gian tù tính từ ngày 15/3/2022.
Do hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp khó khăn nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, anh Phan Thành Tr1 là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty cổ phần thép Việt Thành L đã nhận lại 04 lõi dây đồng trọng lượng 69kg và không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không xét đến.
Về vật chứng:
- 04 lõi dây cáp hiệu CV 150 CADIVI dài 32m, trọng lượng dây đồng là 69kg thuộc sở hữu của Công ty cổ phần thép Việt Thành L, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
- 01 cây cưa tay bằng kim loại, dài 30cm; 01 con dao thái lan bằng kim loại cán màu vàng dài 05cm, lưỡi màu trắng dài 15cm; 01 con dao cắt giấy cán màu xanh dài 05cm, lưỡi màu trắng dài 10cm; 01 cái võng màu xanh là tài sản của bị cáo, bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i, biển số 69D1-464.72 là tài sản chung của vợ chồng của bị cáo do bị cáo đứng tên sở hữu, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội chị N không biết nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu 1/2 giá trị xe mô tô để sung vào ngân sách nhà nước.
(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu, bị cáo xác định cáo trạng truy tố bị cáo là không oan sai bị cáo không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản định giá tài sản, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định xuất phát từ việc không tiền tiêu xài nên khoảng 21 giờ ngày 14/3/2022, Lý Văn P là công nhân Công ty thép Việt Thành L, địa chỉ ấp V, xã L, huyện B. P đến kho D2 P lén lút dùng cưa tay cưa 01 đoạn dây cáp điện loại CV 150 CADIVI dài 32m, trị giá 9.660.000đ rồi cưa ngắn lại thành 04 đoạn mỗi đoạn dài 08m và dùng dao cắt giấy cắt phần vỏ nhựa bên ngoài, được lõi đồng và dùng 01 cái võng bằng vải quấn số lõi đồng lại đem ra phía sau tường rào công ty nhét vào lổ hổng cùng với bịch nilong đựng cưa, dao thái lan và dao cắt giấy ra bên ngoài khuôn viên của công ty. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 15/3/2022, P điều khiển xe mô tô biển số 69D1- 464.72 đến nơi cất giấu lấy 69 kg đồng cùng bịch nilong đựng cưa, dao thái Lan và dao cắt giấy chất lên xe chạy đi tìm nơi tiêu thụ thì bị lực lượng Công an xã LH bắt quả tang cùng tang vật. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Lý Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, do đó Cáo trạng Viện kiểm sát huyện Bến Lức truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự địa phương. Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả của vụ án cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhất thời phạm tội, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có bà ngoại Lý Thị Ên có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và là gia đình cách mạng gương mẫu, do đó cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định, xét thấy theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, anh Phan Thành Tr1 là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty cổ phần thép Việt Thành L đã nhận lại 04 lõi dây đồng trọng lượng 69kg và không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên không xét đến.
Về vật chứng:
- 04 lõi dây cáp hiệu CV 150 CADIVI dài 32m, trọng lượng dây đồng là 69kg thuộc sở hữu của Công ty cổ phần thép Việt Thành L, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
- 01 cây cưa tay bằng kim loại, dài 30cm; 01 con dao thái lan bằng kim loại cán màu vàng dài 05cm, lưỡi màu trắng dài 15cm; 01 con dao cắt giấy cán màu xanh dài 05cm, lưỡi màu trắng dài 10cm; 01 cái võng màu xanh là tài sản của bị cáo, bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i, biển số 69D1-464.72 là tài sản chung của vợ chồng của bị cáo do bị cáo đứng tên sở hữu, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội chị N không biết nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu 1/2 giá trị xe mô tô để sung vào ngân sách nhà nước. Trả lại cho chị Trần Thị Nguyên 1/2 giá trị xe mô tô biển số 69D1-464.72.
(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).
Về án phí: Bị cáo Lý Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lý Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt:
Bị cáo Lý Văn P 06 (sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 15-3-2022.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Lý Văn P trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 26-7-2022 để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 01 cây cưa tay bằng kim loại, dài 30cm; 01 con dao thái lan bằng kim loại cán màu vàng dài 05cm, lưỡi màu trắng dài 15cm; 01 con dao cắt giấy cán màu xanh dài 05cm, lưỡi màu trắng dài 10cm; 01 cái võng màu xanh.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 1/2 giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i, biển số 69D1-464.72. Trả lại cho chị Trần Thị Nguyên 1/2 giá trị xe mô tô biển số 69D1-464.72.
(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Lý Văn P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Long An; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức; - Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Bến Lức; - Nhà tạm giữ công an huyện Bến Lức; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hùng Cường Chủ tọa phiên tòa Lê Hùng Cường |