- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Long ly hôn anh Hưng"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị L được ly hôn anh Trịnh Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2022/HNGĐ-ST Ngày 05-8-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Văn Thư
2. Ông Vũ Văn Thi
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng, Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Trịnh Nhật - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị L; nơi cư trú: Thôn 1, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trịnh Văn H; nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 27 tháng 4 năm 2022 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trịnh Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Trịnh Văn H ngày 05 tháng 8 năm 2011 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn chị và anh H chung sống cùng với gia đình anh H tại thôn Đ, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xẩy ra cãi nhau, mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải nH không có kết quả. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên chị và anh H đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trịnh Văn H.
Về con chung: Chị và anh Trịnh Văn H có một con chung là Trịnh Minh Q sinh ngày 06 tháng 4 năm 2012. Từ khi sống ly thân con chung do anh H nuôi dưỡng, nay chị đề nghị Tòa án giao con chung Trịnh Minh Q cho anh H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho anh H là 1.000.000đồng/tháng.
Về tài sản chung: Chị và anh Trịnh Văn H không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 18 tháng 7 năm 2022 bị đơn anh Trịnh Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Thời gian, điều kiện kết hôn của vợ chồng như lời khai chị L đã trình bày ở trên. Quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hòa hợp nên chị L đã về nhà mẹ đẻ ở và vợ chồng sống ly thân từ năm 2015 không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với nhau nữa. Nay chị L khởi kiện ly hôn, anh đồng ý vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được
Về con chung: Anh và chị Trịnh Thị L có một con chung như chị L trình bày. Ly hôn anh đề nghị Tòa án giao con chung Trịnh Minh Q cho anh nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết nH nếu chị L cấp dưỡng nuôi con cho anh 1.000.000đồng/tháng thì anh đồng ý.
Về tài sản chung: Anh và chị Trịnh Thị L không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành quy định tại các điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 110 và 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị L được ly hôn anh Trịnh Văn H. Về con chung: Giao con chung Trịnh Minh Q sinh ngày 06 tháng 4 năm 2012 cho anh Trịnh Văn H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trịnh Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H số tiền là 1.000.000đồng/tháng. Thời hạn nuôi con và cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; về tài sản chung: không giải quyết. Về án phí: Chị Trịnh Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trịnh Thị L khởi kiện ly hôn với anh Trịnh Văn H, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Trịnh Văn H hiện đang cư trú tại thôn Đ, xã An H, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thàn phố Hải Phòng.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn chị Trịnh Thị L và bị đơn anh Trịnh Văn H vắng mặt tại phiên tòa và có đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Trịnh Thị L và anh Trịnh Văn H.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập, đủ cơ sở xác định: Chị Trịnh Thị L và anh Trịnh Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã An H, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào ngày 05 tháng 8 năm 2011, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, hiện tại anh chị đã sống ly thân, không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai nữa. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Trịnh Thị L và anh Trịnh Văn H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị Trịnh Thị L và anh Trịnh Văn H có 01 con chung là Trịnh Minh Q sinh ngày 06 tháng 4 năm 2012. Chị L và anh H đều có quan điểm sau ly hôn giao con chung cho anh H nuôi dưỡng. Xét, quan điểm của chị L và anh H về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của con nên giao con chung Trịnh Minh Q cho anh Trịnh Văn H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Trịnh Thị L và anh Trịnh Văn H đều có quan điểm, khi ly hôn chị L cấp dưỡng nuôi con cho anh anh H số tiền là 1.000.000đồng/tháng. Xét quan điểm của chị L và anh H là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận, chị L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho anh H số tiền là 1.000.000đồng/tháng.
Thời hạn nuôi con và cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Chị Trịnh Thị L và anh Trịnh Văn H đều có quan điểm không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Trịnh Thị L phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 81, các điều 82, 83, 110 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trịnh Thị L được ly hôn anh Trịnh Văn H.
2. Về con chung: Giao con chung Trịnh Minh Q sinh ngày 06 tháng 4 năm 2012 cho anh Trịnh Văn H trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Trịnh Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Trịnh Văn H số tiền là 1.000.000đồng/tháng. Thời hạn nuôi con và cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trịnh Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con để nộp ngân sách Nhà nước. Tổng số tiền án phí chị L phải chịu là 600.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Trịnh Thị L đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004175 ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, chị L còn phải nộp số tiền án phí là 300.000 đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện An Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, T.P Hải Phòng; - UBND xã A, huyện A, T.P Hải Phòng; - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |