vanban.org

Bản án 60/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Huỳnh Kim C đối với ông Lường Pạt G về việc “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Huỳnh Kim C ly hôn với ông Lường Pạt G. Về con chung: Giao cho chung tên Lường Mỹ M, sinh ngày 16/11/2019 cho bà Nguyễn Huỳnh Kim C chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Huỳnh Kim C không yêu cầu ông Lường Pạt G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Huỳnh Kim Chi - Lường Phạt Gión"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Huỳnh Kim C đối với ông Lường Pạt G về việc “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 21 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẦU TIẾNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về
nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Thu

2. Ông Trần Văn Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 90/2022/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/8/2022; Quyết định hoãn phiên tòa xét xử số 46/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09/9/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Huỳnh Kim C, sinh năm 2001; hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.

- Bị đơn: Ông Lường Pạt G, sinh năm 1991; hộ khẩu thường trú: Số 210, tổ 8, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn bà C có mặt, bị đơn ông G được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn xin ly hôn ngày 14 tháng 01 năm 2022, quá trình tố tụng giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Huỳnh Kim C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà C và ông G chung sống với nhau từ năm 2019, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương vào ngày 24/7/2019. Quá trình chung sống thì hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nhau với nhau, bất đồng quan điểm và không có hạnh phúc, cuộc sống tẻ nhạt và mệt mỏi nên bà C quyết định làm đơn ly hôn với ông G.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà C và ông G có 01 người con chung tên Lường Mỹ M, sinh ngày 16/11/2019. Hiện nay cháu M đang chung sống với bà C, vì vậy bà Nguyễn Huỳnh Kim C yêu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M và thay đổi ý kiến về việc không yêu cầu ông Lường Pạt G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu, tranh chấp gì khác.

* Bị đơn ông Lường Pạt G thể hiện:

Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng đã tiến hành các thủ tục tố tụng như tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để bị đơn ông G biết để tham gia giải quyết vụ án nhưng ông G vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án không thu thập được ý kiến của bị đơn.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ, đúng trình tự thủ tục cho đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà C có mặt, bị đơn ông G được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông Lường Pạt G.

Về nội dung vụ án: Từ các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa, xét thấy yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của nguyên đơn bà C là có cơ sở chấp nhận và giao con chung tên Lường Mỹ M, sinh ngày 16/11/2019 cho bà C chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà C về việc không yêu cầu ông Lường Pạt G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà C khởi kiện ông G về việc ly hôn. Ông G có đăng ký tạm trú tại ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Thông báo về kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú số 000119/TB ngày 14/02/2022 của Công an xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng.

Tại phiên tòa, bị đơn ông G được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Lường Pạt G theo quy định.

Về nội dung vụ án: Bà C và ông G chung sống với nhau từ năm 2019, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương vào ngày 24/7/2019. Quá trình chung sống thì hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn nhau với nhau, bất đồng quan điểm và không có hạnh phúc, cuộc sống tẻ nhạt và mệt mỏi nên bà C quyết định làm đơn ly hôn với ông G. Tại các Điều 19, 21 của Luật Hôn nhân gia đình quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau Ca sẻ, thực hiện công việc gia đình; chung sống cùng nhau, tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau”. Mặc dù trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã thông báo 02 lần tạo điều kiện cho bị đơn ông G hòa giải với nhau nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do, điều này chứng minh ông G không muốn đoàn tụ gia đình cùng chung sống với nguyên đơn. Đồng thời tại biên bản xác minh ngày 05/4/2022 của Tòa án đối với Ủy ban nhân dân xã Định An, huyện Dầu Tiếng xác định: Hiện nay ông Lường Pạt G làm nghề tài xế và tình cảm vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vả nhau ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, mâu thuẫn trầm trọng nên không thể hàn gắn với nhau. Xét tình trạng hôn nhân gia đình của các đương sự không thể tiếp tục hàn gắn với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà C đối với ông G là có căn cứ, phù hợp với các quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trong quá trình chung sống, giữa bà C và ông G có 01 người con chung tên Lường Mỹ M, sinh ngày 16/11/2019. Hiện nay cháu M đang chung sống với bà C, vì vậy bà Nguyễn Huỳnh Kim C yêu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Mỹ và thay đổi ý kiến về việc không yêu cầu ông Lường Pạt G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét, hiện nay cháu Lường Mỹ M chưa đủ 03 tuổi theo quy định khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì do người vợ trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, cần tiếp tục giao cháu Mỹ cho bà C chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp và ghi nhận sự tự nguyện của bà C về việc không yêu cầu ông Lường Pạt G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Bà C không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà C phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 19, 21, 51, 53, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Huỳnh Kim C đối với ông Lường Pạt G về việc “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Huỳnh Kim C ly hôn với ông Lường Pạt G.

- Về con chung: Giao cho chung tên Lường Mỹ M, sinh ngày 16/11/2019 cho bà Nguyễn Huỳnh Kim C chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Huỳnh Kim C không yêu cầu ông Lường Pạt G có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn thì bà Nguyễn Huỳnh Kim C và ông Lường Pạt G được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không tranh chấp nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Huỳnh Kim C chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) và được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0007220 ngày 24 tháng 02 năm 2022 tại C cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ