vanban.org

Bản án 60/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc H đối với ông Đoàn Thanh H1.

Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1 có một con chung tên là Đoàn Ngọc Thiên T, sinh ngày 03/6/2010; bà H và ông H1 thống nhất sau khi ly hôn, ông H1 là người trực tiếp nuôi con chung tên Đoàn Ngọc Thiên T. Ghi nhận việc ông Đoàn Thanh H1 không yêu cầu bà Ngu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc H đối với ông Đoàn Thanh H1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24-6-2022
V/v: “ ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kim Trường Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy An.

2. Bà Lê Thị Kim Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Trần Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Huỳnh Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 236/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2022 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Ông Đoàn Thanh H1, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Tất cả đương sự xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 25/4/2022, bản tự khai, các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc H trình bày:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1 tự nguyện kết hôn vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23/02/2010. Quá trình vợ chồng sống chung không hạnh phúc nên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn với ông H1 nên bà H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H1.

Tại biên bản làm việc ngày 19/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; bị đơn ông Đoàn Thanh H1 trình bày:

Ông Đoàn Thanh H1 thống nhất với phần trình bày của bà Nguyễn Ngọc H về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn và nơi kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên ông H1 và bà H sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông H1 cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1 khai có một con chung tên là Đoàn Ngọc Thiên T, sinh ngày 03/6/2010; bà H và ông H1 thống nhất sau khi ly hôn, ông H1 là người trực tiếp nuôi con chung tên Đoàn Ngọc Thiên T và bà H không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1 khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc H thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn ông Đoàn Thanh H1 thực hiện đúng quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc H về việc ly hôn với ông Đoàn Thanh H1.

- Về con chung: Giao cho ông Đoàn Thanh H1 là người trực tiếp nuôi con chung tên Đoàn Ngọc Thiên T, sinh ngày 03/6/2010. Ghi nhận việc ông Đoàn Thanh H1 không yêu cầu bà Nguyễn Ngọc H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1 khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

- Bà Nguyễn Ngọc H khởi kiện ông Đoàn Thanh H1 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Hiện nay, ông Đoàn Thanh H1, sinh năm 1980; cư trú tại: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Bà Nguyễn Ngọc H là nguyên đơn và ông Đoàn Thanh H1 là bị đơn có đề nghị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1.

Về quan hệ hôn nhân: Ngày 23/02/2010, Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn cho bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1 là hợp pháp. Quá trình vợ chồng sống chung không hạnh phúc do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau; do đó, bà H và ông H1 sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Bà H và ông H1 đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H yêu cầu ly hôn thì ông H1 cũng đồng ý lý hôn và bà H, ông H1 yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được. Bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn với ông H1 và không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không còn khả năng đoàn tụ. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu ly hôn của bà H có căn cứ và phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.

Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1 khai có một con chung tên là Đoàn Ngọc Thiên T, sinh ngày 03/6/2010; bà H và ông H1 thống nhất sau khi ly hôn, ông H1 là người trực tiếp nuôi con chung tên Đoàn Ngọc Thiên T. Ghi nhận việc ông Đoàn Thanh H1 không yêu cầu bà Nguyễn Ngọc H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1 khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Ngọc H phải chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Tại phiên tòa, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 57 và Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc H đối với ông Đoàn Thanh H1. Bà Nguyễn Ngọc H được ly hôn với ông Đoàn Thanh H1.

2. Về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1 có một con chung tên là Đoàn Ngọc Thiên T, sinh ngày 03/6/2010; bà H và ông H1 thống nhất sau khi ly hôn, ông H1 là người trực tiếp nuôi con chung tên Đoàn Ngọc Thiên T. Ghi nhận việc ông Đoàn Thanh H1 không yêu cầu bà Nguyễn Ngọc H cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Nguyễn Ngọc H là người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con: Người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc H và ông Đoàn Thanh H1 khai không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch: Bà Nguyễn Ngọc H phải nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006456 ngày 05 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ