vanban.org

Bản án 60/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Đình S được

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Chi cục THA Dân sự huyện Lục Nam theo biên lai thu số 0013502 ngày 01/01/2022. Chị H đã nộp đủ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Đình S được
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 06/6/2022
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Toan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tiến Chỉnh

2. Ông Nguyễn Xuân Chung

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Thùy- Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Cường- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam,

tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2022, về việc: “tranh chấp hôn nhân gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 37 ngày 09/5/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Muối, xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

- Bị đơn: Anh Bùi Đình S, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Muối, xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 07/01/2022, trong các bản tự khai, biên bản

lấy lời khai, chị Nguyễn Thị H là nguyên đơn trình bày: Chị kết hôn với anh Bùi Đình S năm 1992, trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong vợ chồng chị chung sống tại thôn Muối, xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Cuộc sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn từ nhiều năm nay, đến năm 2019 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh S đã nhiều lần đánh đập chị. Việc này gia đình hai bên có biết, có tổ chức hòa giải, khuyên bảo nhưng anh S vẫn chứng nào tật đó dẫn đến vợ chồng chị đã chấm dứt toàn bộ quan hệ tình cảm. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Đình S.

Về con chung: Do các con đã trưởng thành nên chị không đề nghị Tòa án

giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay chị có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn là anh Bùi Đình S là bị đơn trình bày trong biên bản lấy lời khai:

anh kết hôn với chị Nguyễn Thị H năm 1992, trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong vợ chồng anh chung sống tại thôn Muối, xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Cuộc sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn từ nhiều năm nay, đến năm 2019 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không quan tâm, không bảo được nhau, việc của ai người đó làm. Hiện vợ chồng anh vẫn sống chung nhà và sinh hoạt chung nhưng vợ chồng đã chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ khi mâu thuẫn cho đến nay. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên việc chị H làm đơn đề nghị Tòa án cho ly hôn, anh không đồng ý.

Về con chung: Do các con đã trưởng thành nên anh không đề nghị Tòa án

giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại phiên tòa hôm nay anh vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét

xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm

phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, còn bị đơn không chấp hành nghiêm chỉnh.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia

đình; Căn cứ điều 28, điều 35, điều 39, khoản 4 Điều 147, điều 227; Điều 228, Điều 238; Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Bùi

Đình S.

Về án phí, quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra

chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của KSV, HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các

đương sự. Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa, anh S vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do nên HĐXX căn cứ vào Điều 227; Điều 228 đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Bùi Đình S

năm 1992, trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật. Cưới xong vợ chồng chị H về chung sống tại thôn Muối, xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong phát triển kinh tế gia đình dẫn đến vợ chồng không quan tâm đến nhau, không bảo được nhau, việc của ai người đó làm, vợ chồng cũng chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ khi xảy ra mâu thuẫn. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Đình S. Phía anh S không đồng ý ly hôn vì cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn. Tuy nhiên quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị H và anh S đều xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn. Điều đó chứng tỏ tình cảm giữa chị H và anh S đã không còn, mâu thuẫn căng thẳng kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần giải quyết cho chị H được ly hôn với anh S. Xét như vậy là phù hợp với Điều 51; 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Về con chung, tài sản, công nợ: Cả chị H và anh S không đề nghị giải

quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ

thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Chi cục THA Dân sự huyện Lục Nam.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ điều 28,

điều 35, điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Đình S được

ly hôn.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm

nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Chi cục THA Dân sự huyện Lục Nam theo biên lai thu số 0013502 ngày 01/01/2022. Chị H đã nộp đủ.

Báo cho đương sự vắng mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo bản

án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Cỡ chữ