vanban.org

Bản án 60/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn S phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Xử phạt bị cáo Quàng Văn S 12 ( mười hai ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam của Bản án hình sự sơ thẩm số : 08/2021/HSST ngày 04/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La (ngày 16/01/2021). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn S - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2021/HSST
Ngày 28/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Ngọc Phương.

Ông Lò Thanh Dung.

- Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Mai -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Ông Lò Việt Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 28/4/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2021/TLST-HS ngày 19/3/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2021/QĐXXST-HS ngày 14/4/2021 đối với bị cáo:

Quàng Văn S; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1990 tại xã M, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú : Bản K, xã M, huyệ n Thuận Châu , tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giớ i tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quố c tị ch: Việ t Nam; Con ông Quàng Văn T, sinh năm 1966 và bà Quàng Thị T, sinh năm: 1964; Bị cáo có vợ : Quàng Thị H, sinh năm 1991 và 02 con lớn 12 tuổi nhỏ 11 tuổi; Tiền án : Ngày 04/02/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù, về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hiện bị cáo đang thi hành án phạt tù theo Quyết định thi hành án phạt tù số 18/2021/HSST-QĐTG ngày 18/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La; Tiền sự : Không; Nhân thân : Ngày 06/4/2021 Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La xử phạt bị cáo Quàng Văn S về tội Trốn khỏi nơi giam, giữ với mức hình phạt 10 ( Mười) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù được khấu trừ 02 tháng 05 ngày tạm giữ, tạm giam của Bản án số 08/2021/HSST ngày 04/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 22 ( Hai mươi hai) tháng tù, được khấu trừ 02 tháng 05 ngày đã tạm giữ, tạm giam. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2021 (bản án chưa có hiệu lực pháp luật); Hiện bị cáo đanh chấp hành án tại nhà tạm giữ Công an huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Quàng Văn S: Ông Lường Văn H- Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La, có mặt.

* Bị hại : Công ty Tài chính TNHH H. Địa chỉ: Lầu 8,9,10 Tòa nhà G, 24C Phan Đăng L, Phường 6, Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Hữu N - Tổng giám đốc là đại diện theo pháp luật. Ủy quyền cho ông Vũ Hoàng G - Nhân viên Điều tra nội bộ H. Địa chỉ : Phòng an ninh H- chi nhánh H, tầng 3, tòa nhà V, số 519 K, phường N, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo văn bản ủy quyền số 21/GUQ-AN ngày 3/3/2021, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Anh Đinh Văn L. Nơi cư trú : Tiểu khu 3, thị trấn T, huyệ n Thuận Châu, tỉnh Sơn La, vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/8/2019, Quàng Văn S mượn xe mô tô cùng chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe của anh rể là Bạc Cầm T, sinh năm 1981, trú tại bản Kg, xã M, huyện Thuận Châu đi từ nhà đến cửa hàng điện thoại di động Đinh L tại tiểu khu 3, thị trấn T, huyện Thuận Châu mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản là điện thoại di động để sử dụng do không có điện thoại để sử dụng. Tại đây, S giả mạo là anh Bạc Cầm T để hỏi mua trả góp một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO trị giá 3.990.000 đồng. Anh Đinh Văn L ( là chủ cửa hàng điện thoại ) đồng ý và yêu cầu chị Lường Thị P, sinh năm 1992, trú tại bản H, phường H, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên ( là nhân viên trả góp của Công ty Tài chính TNHH H, địa chỉ: Lầu 8,9,10 Tòa nhà G, 24C Phan Đăng L, Phường 6, Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh) xem xét lập hợp đồng cho S vay tiền mua điện thoại di động. Quá trình lập hợp đồng, S tự nhận mình là Bạc Cầm T, đồng thời xuất trình giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe của anh T cho chị P lập hợp đồng. Chị P chụp hình ảnh giấy chứng minh nhân dân và giấy phép lái xe mang tên Bạc Cầm T và trực tiếp chụp ảnh chân dung S, thấy khách hàng không giống với ảnh trong giấy tờ nên chị P hỏi S thì S nói dối là ảnh trong giấy tờ được chụp khi S béo, đến nay S bị ốm, gầy đi nên mới khác ảnh trong giấy tờ. Chị P tin lời S và lập đề nghị cấp tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số ED014454143 ngày 01/8/2019 giữa Công ty H với khách hàng mang tên Bạc Cầm T (do Quàng Văn S giả danh) với nội dung: Công ty H cho Bạc Cầm T vay số tiền là 2.875.000 đồng, lãi suất 1,79%/tháng, thời hạn vay là 06 tháng. Cùng với số tiền vay được, S phải trả trước số tiền 1.115.000 đồng để mua được một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO trị giá 3.990.000 đồng. Chị P nhập nội dung hợp đồng vào hệ thống của Công ty H (qua mạng Internet), được Công ty thông báo duyệt hợp đồng, nên chị P in hợp đồng cho Quàng Văn S. S ký tên “T

- Bạc Cầm T” vào hợp đồng, nhận điện thoại từ cửa hàng Đinh L rồi ra về. Sau đó, S không thực hiện hợp đồng, không trả tiền hàng tháng cho Công ty H theo hợp đồng đã ký. Sau nhiều lần không liên lạc được với S qua điện thoại, Công ty HD SAISON liên hệ với anh Bạc Cầm T để đòi nợ thì được biết Quàng Văn S đã giả mạo anh T nhằm chiếm đoạt tài sản là khoản tiền vay của Công ty để mua điện thoại. Do đó, Công ty H đã trình báo sự việc đến Cơ quan Công an huyện Thuận Châu.

Quá trình điều tra, xác định được 04/11/2020, Quàng Văn S bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Bắc Yên tạm giữ về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản huyện Bắc Yên ngày 23/10/2020. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã làm việc với Quàng Văn S tại Công an huyện Bắc Yên. Quá trình làm việc, Quàng Văn S đã khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, với mục đích là chiếm đoạt tiền vay của Công ty H để mua điện thoại sử dụng. Sau khi mua điện thoại được khoảng một tháng, S đã bán điện thoại cho một cửa hàng S không nhớ rõ địa chỉ tại xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu. Lời khai của Quàng Văn S, phù hợp lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 01/12/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ra Quyết định trưng cầu giám định số 4106, giám định chữ ký, chữ viết của Quàng Văn S. Tại kết luận giám định số 142/KLGĐ ngày 31/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Chữ ký, chữ viết mang tên Bạc Cầm T dưới mục Bên vay trên Đề nghị cấp tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số EDO 14454143 ngày 01/8/2019 giữa Công ty H với khách hàng tên Bạc Cầm T là do Quàng Văn S ký, viết ra”.

Ngày 13/11/2020 tại Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Châu đã tiến hành cho chị Lường Thị P nhận dạng hình ảnh. Kết quả chị P xác nhận đúng Quàng Văn S là người đã giả danh Bạc Cầm T thực hiện hợp đồng trả góp điện thoại với chị P vào ngày 01/8/2019 tại Cửa hàng điện thoại Đinh L.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Công ty SAISON yêu cầu anh Quàng Văn S khắc phục tổng thiệt hại đã gây ra là: 3.305.260 đồng bao gồm: tiền gốc, tiền lãi và phí phạt vi phạm hợp đồng. Đến nay, Quàng Văn S chưa bồi thường thiệt hại cho Công ty H.

Tại bản cáo trạng số: 31/CT-VKS ngày 18/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố Quàng Văn S về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, Quàng Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn S phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cá o Quàng Văn S từ 12 đến 16 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam của Bản án hình sự sơ thẩm số : 08/2021/HSST ngày 04/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La (ngày 16/01/2021).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộc Quàng Văn S phải bồi thường cho Công ty HD SAISON là: 3.305.260 đồng.

Miễ n toà n bộ á n phí hì nh sự sơ thẩ m và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cá o theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ông Lườ ng Văn H - Luật sư, Trợ giú p viên phá p lý ngườ i bào chữa cho bị cáo Quàng Văn S: Trong bản luận cứ bào chữa nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xé t hà nh vi phạ m tộ i, nhân thân và tì nh tiế t giả m nhẹ để xét xử đối với bị cáo vớ i mức án nhẹ nhất cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

Tại phiên tòa, Quàng Văn S thừa nhận hành vi phạm tội đồng ý với bản luận cứ bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 01/8/2019, Quàng Văn S đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin giả, không đúng với sự thật, bằng cách mạo danh, giả mạo chữ ký anh Bạc Cầm T và cung cấp thông tin giấy chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe của anh Bạc Cầm T cho chị Lường Thị Plà nhân viên của Công ty Tài chính TNHH H, làm cho chị P tin đó là thật và giao tài sản cho Quàng Văn S, đạt được mục đích giả danh vay Công ty Tài chính TNHH H số tiền 2.875.000 đồng mua điện thoại di động sau đó chiếm đoạt số tiền vay của Công ty Tài chính TNHH H. Hành vi của Quàng Văn S đã cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo phù hợp với: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó có đầy đủ điều kiện, đủ căn cứ kết luận bị cáo Quàng Văn S phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộ c trườ ng hợ p ít nghiêm trọ ng , nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của tổ chức, bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác, mục đích chiếm đoạt tài sản để tư lợi cho cá nhân, giá trị tài sản chiếm đoạt không lớn, tài sản bị cáo chiếm đoạt chưa được trả lại cho bị hại. Hành vi phạm tội gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Do đó cần có mứ c hì nh phạ t nhằ m răn đe giá o dụ c đố i vớ i bị cá o, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân, huy chương kháng chiến cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhiều tiền án, trong một thời gian ngắn bị cáo liên tiếp thực hiện nhiều hành vi phạm tội là nhân thân xấu.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có tài sản riêng, sống ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy đị nh tạ i khoả n 5 Điề u 174 Bộ luậ t hì nh sự đối với bị cáo.

Về tổng hợp hình phạt : Hiện bị cáo đang chấp hành bản án 08/2021/HSST ngày 04/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La với mức hình phạt 12 tháng tù được khấu trừ 02 tháng 05 ngày tạm giữ, tạm giam, thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2021 theo Quyết định thi hành án phạt tù số 18/2021/QĐ-CA ngày 08/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. Ngày 06/4/2021 Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La xét xử tiếp bị cáo Quàng Văn S về tội Trốn khỏi nơi giam, giữ với mức hình phạt 10 ( Mười) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù được khấu trừ 02 tháng 05 ngày tạm giữ, tạm giam của Bản án số 08/2021/HSST ngày 04/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 22 ( Hai mươi hai) tháng tù, được khấu trừ 02 tháng 05 ngày đã tạm giữ, tạm giam. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2021

( hiện bản án chưa có hiệu lực pháp luật ). Do vậy, không tổng hợp hình phạt , việc tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự khi bản án này có hiệu lực pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Đối với Công ty Tài chính TNHH H yêu cầu bồi thường số tiền 3.305.260 đồng là tiền tiền gốc, tiền lãi và phí phạt vi phạm hợp đồng, xét thấy là có căn cứ đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật do đó cần buộc bị cáo phải thanh toán số tiền trên cho Công ty Tài chính TNHH H vận dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự.

Đối với anh Bạc Cầm T, là người đưa cho Quàng Văn S mượn chứng minh nhân dân cùng giấy phép lái xe. Quá trình điều tra xác định anh T không biết việc S sử dụng giấy tờ của mình để đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phù hợp với các lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó không đề cập đến việc xử lý anh Bạc Cầm T là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về chiếc điện thoại di động S mua từ tiền lừa đảo của Công ty Tài chính TNHH H. Quá trình điều tra xác định điện thoại có nhãn hiệu OPPO có giá trị khi mua là 3.990.000 đồng, tuy nhiên cả Công ty Tài chính TNHH H, cửa hàng Đinh L và Bạc Cầm S đều không nhớ, không có tài liệu thể hiện số loại, đặc điểm của điện thoại. Quàng Văn S cũng không nhớ được đã bán chiếc điện thoại trên ở cửa hàng nào tại xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, truy thu.

Về án phí: Bị cáo sống ở xã điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và là hộ nghèo theo quy đị nh tạ i điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễ n toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cá o.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn S phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn S 12 ( mười hai ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam của Bản án hình sự sơ thẩm số : 08/2021/HSST ngày 04/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La (ngày 16/01/2021).

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về bồi thường dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự ; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự : Tuyên buộc bị cáo Quàng Văn S phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty Tài chính TNHH H số tiền 3.305.260 đồng (ba triệu ba trăm linh năm nghìn hai trăm sáu mươi đồng ).

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:: Miễ n toà n bộ á n phí hì nh sự sơ thẩ m và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cá o Quàng Văn S.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại Công ty Tài chính TNHH H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan anh Đinh Văn L đượ c khá ng cá o phầ n bả n á n hoặ c quyế t đị nh có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ