- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN DUY P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố t ng h nh sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. V TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2021/HS-ST Ngày 11/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Miện
Ông Hà Văn Trường
- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Trần Hồng Gấm - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2021 tại tr s Tòa án nhân dân thành phố V tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, t s th m c ng khai v án h nh sự th lý số 09/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa v án ra t
số 36/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:
Nguyễn Duy P, sinh năm 1986 tại tỉnh Đồng Nai; Hộ kh u thường trú: Thôn 1, xã S huyện C tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; chỗ : Kh ng có n i cư trú ổn định; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; t n giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; cha tên Nguyễn Văn L, sinh năm 1948 và mẹ tên Đỗ Thị H, sinh năm 1954; gia đ nh có 08 (tám) anh chị em bị cáo là con thứ 07 (bảy) trong gia đ nh;
Tiền án:
- Bản án số 10 ngày 13/12/2007 bị TAND thị ã B tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành ong h nh phạt ngày 07/05/2011.
- Bản án số 47 ngày 22/08/2012 bị TAND huyện C tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
phạt 08 tháng tù về tội “Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Chấp hành ong h nh phạt ngày 18/01/2013.
- Bản án số 48 ngày 23/08/2013 bị huyện C tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chấp hành ong h nh phạt ngày 28/02/2015. Chấp hành án phí HSST ngày 29/10/2020.
Tiền sự: Kh ng
Bị cáo bị bắt ngày 23 tháng 10 năm 2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (bị cáo có mặt).
- Bị hại:
1. Anh Nguyễn Đ nh L (sinh năm: 1988; n i cư trú: khu phố H thị trấn L huyện L tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (vắng mặt).
2. Cháu Nguyễn Minh P, sinh năm 2004 (có đ n in giải quyết vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp cho cháu Phú: Ông Trần Quyết Thắng, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp L ã L huyện Đ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Duy P là đối tượng có nhiều tiền án về các tội “Cướp tài sản” “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” chưa được óa án tích. Trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2020 P đã thực hiện 02 v trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố V và địa bàn huyện Đ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu c thể như sau:
V thứ nhất: Vào khoảng h n 10 giờ ngày 22/7/2020 Nguyễn Duy P cùng Nguyễn Đ nh L (sinh năm: 1988; n i cư trú: khu phố H thị trấn L huyện L tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) đến tiệm s a e “Thắng” tại ấp P, xã P huyện Đ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để s a e. Tại đây cả hai phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y91C của anh Nguyễn Minh P (sinh năm: 2004; n i cư trú: ấp L, xã L huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là nhân viên s a e của tiệm) đang được để trên máy p vỏ e trong tiệm s a e nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. L ngồi chỉ các bộ phận hư hỏng trên e cho anh P s a để làm anh P mất cảnh giác. Cùng lúc P lấy trộm chiếc điện thoại trên rồi bỏ vào túi quần và đi ra P vừa đi ra vài bước th chiếc điện thoại đổ chu ng nên anh P phát hiện bị mất trộm điện thoại và truy h . Lúc này, L lấy e ra nổ máy P nhảy lên e của L bỏ chạy chạy được khoảng 30 phút th e bị ngã nên L bị bắt còn P tiếp t c chạy và trốn được. Quá tr nh P bỏ chạy đã làm rớt chiếc điện thoại trộm được nên kh ng thu giữ được.
Theo kết luận định giá tài sản số: 32/KL-HĐĐGTS ngày 03/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản tố t ng h nh sự - Ủy ban nhân dân huyện Đ kết luận chiếc điện thoại di động hiệu Vivo Y91C trị giá: 1.100.000 đồng.
V thứ hai: Vào khoảng 01 giờ 45 phút ngày 23/10/2020, Nguyễn Duy P điều khiển e mô tô từ thị trấn L đến thành phố V với m c đích in đi ghe để kiếm tiền. Sau khi vào một tiệm Internet tại Phường 11 thành phố V để ch i game th hết tiền nên P tiếp t c đi uống cảng B theo đường B để in việc. Khi đi đến trước c ng tr nh ây dựng số 41-A21 đường B Phường C, thành phố V, P phát hiện c a c ng tr nh kh ng khóa chỉ có hàng rào B40. Quan sát vào trong c ng tr nh P thấy anh Vũ Nguyên G (sinh năm: 1996; n i cư trú: 135/31 đường L phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) đang nằm ngủ bên trong bên cạnh anh G có để 01 chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi Note 9 Pro (đằng sau ốp có để số tiền 140.000 đồng) nên P nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại di động trên. P vào trong công tr nh lấy chiếc điện thoại trên cất vào túi quần rồi đi ra ngoài lấy e t u thoát. Lúc này anh Nguyễn Nhật H (hàng óm của anh G số nhà 41A23 đường B) đi làm về thấy P có dấu hiệu nghi vấn nên gọi anh G dậy kiểm tra th anh G phát hiện mất chiếc điện thoại nên anh G ch anh H đi t m P. Khi đi đến ngã ba đường L – đường B thì phát hiện P đang chạy e máy trên đường nên phối hợp với quần chúng nhân dân bắt giữ P cùng tang vật giao cho C ng an Phường C, thành phố V lý.
Theo Kết luận định giá tài sản số 198/KL-HĐĐG-TTHS ngày 02/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản tố t ng h nh sự thành phố V kết luận điện thoại di động hiệu Xiaomi (Readmi) Note 9 Pro số Imei: 860295041721122 có trị giá 3.700.000 đồng.
Tại c quan điều tra Nguyễn Duy P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. (Bút l c điều tra từ số 31-36 và từ 56 - 62)
Quá tr nh điều tra Nguyễn Duy P thành kh n khai báo án năn hối cải bị can P phạm tội nhiều lần.
- Việc thu giữ tạm giữ tài liệu đồ vật và lý vật chứng:
+ Thu giữ của Nguyễn Duy P: 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi (Readmi) Note 9 Pro số Imei: 860295041721122. Số tiền 140.000 đồng.
+ Thu giữ của Nguyễn Đ nh L: 01 (một) xe mô t hiệu ESPERO màu anh biển số 72C1-915.12, số khung: RPEKCB3PEJA339253 số máy: VDEJQ139FMB2339253 và 01 (một) con dao dài khoảng 24cm cán bằng nhựa màu đen lưỡi bằng kim loại.
- X lý vật chứng: C quan CSĐT C ng an thành phố V đã ra Quyết định lý vật chứng số 122/QĐ-Đ1 ngày 18/11/2020 trả lại cho anh Vũ Nguyên G chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi (Readmi) Note 9 Pro và số tiền 140.000 đồng;
+ Đối với chiếc e m t hiệu ESPERO màu anh BKS: 72C1-915.12 số khung: RPEKCB3PEJA339253 số máy: VDEJQ139FMB2339253 là tang vật thuộc v án khác hiện đang được Đội Cảnh sát h nh sự C ng an thành phố V th lý nên đã bàn giao tang vật trên cho Đội Cảnh sát h nh sự.
+ Đối với con dao dài khoảng 24cm cán bằng nhựa màu đen lưỡi bằng kim loại C ng an huyện Đ đã tiến hành tịch thu và tiêu hủy theo Quyết định phạt vi phạm hành chính số 166/QĐ-XPHC ngày 17/9/2020.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại kh ng có yêu cầu bồi thường thiệt hại;
Tại Bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 15/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố Nguyễn Duy P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng nội dung truy tố về tội danh khung h nh phạt đối với bị cáo Nguyễn Duy P về tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị Hội đồng t :
- Áp d ng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật H nh sự đề nghị phạt bị cáo Nguyễn Duy P từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại kh ng yêu cầu bồi thường đề nghị kh ng xem xét.
Về lý vật chứng: Đã giải quyết ong đề nghị kh ng em t.
Bị cáo Nguyễn Duy P đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của m nh như đã nêu trên. Khi nói lời sau cùng bị cáo thể hiện ăn năn hối cải và in được giảm nhẹ h nh phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên c s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ s v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng t nhận định như sau:
[1] Về hành vi quyết định tố t ng của C quan điều tra Điều tra viên Viện kiểm sát Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền tr nh tự thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa bị cáo kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của C quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của C quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của m nh như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại c quan điều tra lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa v liên quan vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ s v án, thể hiện: Trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2020 P đã thực hiện 02 v trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố V và địa bàn huyện Đ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu c thể như sau:
V thứ nhất: Khoảng h n 10 giờ ngày 22/7/2020 tại tiệm s a e “Thắng” thuộc ấp P, xã P huyện Đ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Nguyễn Duy P cùng với Nguyễn Đ nh L đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y91C của anh Nguyễn Minh P trị giá 1.100.000 đồng.
V thứ 2: Vào khoảng 01 giờ 45 ngày 23/10/2020 tại địa chỉ số 41-A21 đường B Phường C, thành phố V, Nguyễn Duy P đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi (Readmi) Note 9 Pro trị giá 3.700.000 đồng và 140.000 đồng của anh Vũ Nguyên G. Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Duy P đã chiếm đoạt của các bị hại là 4.940.000 đồng (Bốn triệu chín trăm bốn mư i ngh n đồng);
Bị cáo có 03 tiền án chưa được óa án tích đã tái phạm nguy hiểm nay lại tiếp t c phạm tội do cố ý nên hành vi của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật h nh sự.
[3] Về tính chất mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo: X t tính chất mức độ do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho ã hội, trực tiếp xâm phạm quyền s hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ gây ảnh hư ng ấu đến an ninh trật tự tại địa P. Bị cáo là thanh niên đã trư ng thành biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật bị nhà nước lý nghiêm minh nhưng do lười lao động tham lam lợi ích vật chất nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm m c đích có tiền tiêu ài cá nhân. Bị cáo từng bị phạt về nhiều hành vi phạm tội sau khi tr về hòa nhập với ã hội bị cáo kh ng lấy đó làm bài học mà còn tiếp t c dấn thân vào con đường phạm tội. V vậy cần phải lý nghiêm tuyên mức h nh phạt phù hợp tư ng ứng với hành vi tính chất mức độ phạm tội nhằm cải tạo giáo d c riêng bị cáo đồng thời bảo đảm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về t nh tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự:
[4.1] Về t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự: Trong khoảng thời gian ngắn bị cáo đã thực hiện hai v trộm cắp trên nhiều địa P khác nhau. V vậy Hội đồng t áp d ng t nh tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật h nh sự để lượng h nh đối với bị cáo.
[4.2] Về t nh tiết giảm nhẹ: Trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành kh n khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của m nh. V vậy, Hội đồng t áp d ng t nh tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật h nh sự để em t khi lượng h nh đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Vũ Nguyên G và cháu Nguyễn Minh P ng Trần Quyết T đã nhận lại tài sản và kh ng yêu cầu g thêm.
[6] Về lý vật chứng: C quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã ra quyết định lý vật chứng trả lại cho anh Vũ Nguyên G chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi (Readmi) Note 9 Pro và số tiền 140.000 đồng là có căn cứ.
Đối với chiếc e m t hiệu ESPERO màu anh BKS: 72C1-915.12 số khung: RPEKCB3PEJA339253 số máy: VDEJQ139FMB2339253 là tang vật thuộc v án khác hiện đang được Đội Cảnh sát h nh sự C ng an thành phố V th lý nên đã bàn giao tang vật trên cho Đội Cảnh sát h nh sự.
Đối với con dao dài khoảng 24cm cán bằng nhựa màu đen lưỡi bằng kim loại C ng an huyện Đ đã tiến hành tịch thu và tiêu hủy theo Quyết định phạt vi phạm hành chính số 166/QĐ-XPHC, ngày 17/9/2020.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy P phải nộp án phí h nh sự s th m theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp d ng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật H nh sự.
- X phạt: Bị cáo Nguyễn Duy P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23 tháng 10 năm 2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết ong nên không xem xét.
3. Về lý vật chứng: Đã giải quyết ong nên không xem xét.
4. Án phí: Bị cáo Nguyễn Duy P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí h nh sự s th m.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo nêu trên tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét
lại v án theo thủ t c phúc th m.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - C ng an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06, PC10); - S Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND Tp.V; - Công an Tp.V; - Chi c c THADS Tp.V; - Người tham gia tố t ng; - Lưu hồ s v án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thường |