- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật hình sự xử phạt
| TOÀ ÁN ND HUYỆN VÕ NHAI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2021/HS-ST Ngày 29/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Hạnh và bà Trần Thị Hương Ly.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thu Uyên.
- Đại diện VKSND huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2021, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Hoàng Văn T1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 06 tháng 8 năm 1967; Nơi cư trú: xóm ĐĐ, xã LH, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 5/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông Hoàng Văn N (Đã chết) và bà Nguyễn Thị S (Đã chết); Vợ: Dương Thị H, sinh năm 1971; Con: Có 02 con (lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2003); Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 05;
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương, có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1992, có mặt.
Địa chỉ: Tổ 7 phường TD, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.
- Người làm chứng:
1. Anh Dương Quý N1, sinh năm 1969, vắng mặt.
Địa chỉ: xóm ĐĐ, xã LH, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên
2. Anh Luân Viết D, sinh năm 1993, vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ 6, thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào các ngày 06/7/2021 và ngày 16/7/2021, khi vợ chồng Hoàng Văn T1 sinh năm 1967, Dương Thị H sinh năm 1971 cùng trú tại: xóm ĐĐ, xã LH, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên ở nhà thì anh Nguyễn Hữu T sinh năm 1992 trú tại: Tổ 7, phường TD, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên là nhân viên thu hồi nợ tại nhà của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (viết tắt là VPB FC) đến và nói cho vợ chồng T biết về việc chị Hoàng Thị X, sinh năm 1993, trú tại: xóm ĐĐ, xã LH, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên (là con gái của T và bà H, hiện đã lấy chồng và sinh sống ở thành phố HN) có ký hợp đồng vay tín chấp số tiền 15.000.000 đồng của VPB FC. T nhờ vợ chồng T1 liên lạc với chị X để nhắc nợ vì từ tháng 5/2021 đến tháng 7/2021 chị X không nộp tiền gốc và lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi vợ chồng T1 liên lạc với chị X thì chị X thừa nhận vay nợ như trên.
Khoảng 09 giờ ngày 18/7/2021, khi T1 đang ngồi uống nước ở bàn trong phòng khách cùng hàng xóm là ông Dương Quý N1, sinh năm 1969, trú tại: xóm ĐĐ, xã LH, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên thì thấy anh T và anh Luân Viết D, sinh năm 1993, trú tại: Tổ dân phố số 6, thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên cùng đi trên một xe mô tô vào trong sân nhà T1. Lúc này anh T hỏi “Cô H có nhà không?”. T1 nói “Mày đến đây chỉ tìm bà H thôi à?". Anh T dựng xe ở sân rồi đi vào trong nhà ngồi ở bộ bàn ghế nơi T và ông N1 đang ngồi, D đi theo và ngồi ở giường kê cạnh đó. Anh T nhắc đến khoản vay nợ của X thì T1 bực tức vì cho rằng vợ chồng T1 không liên quan đến khoản vay, T đến nhiều lần nhưng chỉ tìm và làm việc với bà H là không tôn trọng T1. Nên T1 to tiếng nói với T “Con tao nợ thì chúng mày đi tìm nó mà đòi” và đuổi anh T, anh D ra khỏi nhà mình. Anh T nói với T1 chỉ đến nhờ gia đình thông báo cho X chứ không phải đến đòi hoặc bắt vợ chồng T1 trả nợ cho X. Do anh T không chịu ra khỏi nhà mình, T1 cầm điếu cày hút thuốc lào làm bằng cây tre ở gầm bàn uống nước lên chỉ thẳng mặt T nói “Chúng mày cút ra khỏi nhà tao”. Anh T thách thức T1 và chỉ vào đầu mình nói “Ông đập vào đây này”. Ông N đã can ngăn hai người, lúc này T1 bỏ điếu cày xuống và tiếp tục đuổi T ra khỏi nhà nhưng T vẫn không đi nên T1 đi xuống bếp lấy một con dao quắm có mũi dao cong bằng kim loại dài 38cm, có một cạnh sắc, có cán bằng gỗ dài 16cm lên đứng trước mặt, cách vị trí của T khoảng 1 mét. T1 khua khoắng con dao trước mặt T để đuổi T ra khỏi nhà. Khi T nói với T1 là bình tĩnh để nói chuyện thì T1 đặt con dao xuống mặt bàn uống nước. Thấy anh T đứng dậy không đi ngay mà lại tiếp tục nói về khoản nợ của X thì T1 dùng tay trái cầm con dao ở trên bàn uống nước giơ lên chém một nhát theo hướng từ trên xuống dưới về phía anh T thì anh T dùng tay phải giơ lên để đỡ làm lưỡi dao chém trúng vào bàn tay phải, T1 giật mạnh con dao lại về phía mình làm đứt các ngón tay của anh T. Thấy anh T bị thương chảy máu T1 vứt con dao về phía cửa buồng ngủ của gia đình rồi tiếp tục chửi bới và đuổi T ra khỏi nhà. Anh D đã đưa T đến Trạm Y tế xã La Hiên sơ cứu rồi sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa Trung ương tỉnh Thái Nguyên để điều trị vết thương, đến ngày 22/7/2021 T ra viện.
Do bản thân bị T1 chém vào tay không viết được chữ nên T có nhờ Luân Viết D làm đơn trình báo Công an xã LH, Công an xã La Hiên đã chuyển hồ sơ cùng tài liệu đến cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 24/8/2021 Nguyễn Hữu T đã có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại sổ bệnh án số lưu trữ số THTM210086, mã bệnh nhân 13039867 của Bệnh viện đa khoa Trung ương tỉnh Thái Nguyên đối với bệnh nhân Nguyễn Hữu T thấy: Vết thương đốt 1 các ngón 2, 3, 4, 5 kích thước mỗi vết khoảng 1cm, bờ mép sắc gọn, mất gấp nông, gấp sâu ngón 3 tay phải bệnh nhân có vết thương ngón 2, 3, 4, 5, đứt gân gấp vùng 2 và đứt thần kinh ngón 3 bàn tay phải.
Kết luận giám định số 651/TgT ngày 13/8/2021 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên kết luận thương tích của Nguyễn Hữu T: Tổn thương gân gấp chung sâu ngón III gây hạn chế vận động; hiện tại 04 sẹo vết thương phần mềm kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 9%. Áp dụng phương pháp tính theo thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế.
Về vật chứng: Ngày 18/7/2021 Hoàng Văn T đã tự giác giao nộp 01 con dao quắm (mũi dao cong) bằng kim loại, có một cạnh sắc, dài 38cm được tra vào cán gỗ dài 16cm. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án huyện Võ Nhai chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Hữu T yêu cầu Hoàng Văn T1 phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tinh thần cho T tổng số tiền 101.300.000 đồng. Đến nay T1 chưa thực hiện bồi thường cho T.
Tại Cơ quan điều tra Hoàng Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận của Hoàng Văn T1 phù hợp với biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 55/CT-VKSVN ngày 11/11/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn T1 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự;
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Hoàng Văn T1 từ 12 đến 15 tháng tù.
Về dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không thỏa thuận được việc bồi thường. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại anh T tổng cộng từ 42.000.000 đồng đến 49.000.000 đồng bao gồm tiền viện phí, tiền mua thuốc điều trị, tiền công chăm sóc, tiền bồi thường phần trăm sức khỏe bị mất, tiền thuê xe cấp cứu và đi lại khám chữa bệnh, tiền thu nhập bị mất do không lao động được, tiền công người chăm sóc. Bị cáo còn phải chịu lãi chậm trả đối với số tiền chậm bồi thường theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 con dao quắm có mũi cong bằng kim loại dài 38cm, có một cạnh sắc, có cán bằng gỗ dài 16cm, dao đã cũ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Võ Nhai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố là đúng người, đúng tội.
Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc, kết luận giám định về thương tích, lời khai của bị hại và lời khai của những người làm chứng. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 09 giờ ngày 18/7/2021, tại nhà của Hoàng Văn T1 ở xóm ĐĐ, xã LH, huyện VN do bực tức về việc Nguyễn Hữu T đến nhà mình nhắc về khoản nợ của con gái là Hoàng Thị X, T1 đã thực hiện hành vi dùng tay trái cầm 01 con dao quắm (mũi dao cong) bằng kim loại, có một cạnh sắc, dài 38cm được tra vào cán gỗ dài 16cm chém một nhát trúng vào bàn tay phải của Nguyễn Hữu T gây tổn hại sức khỏe cho T 9%. Ngày 24/8/2021 Nguyễn Hữu T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, về trách nhiệm dân sự T yêu cầu T1 phải bồi thường tổng số tiền 101.300.000 đồng thiệt hại về sức khỏe, tinh thần, T1 chưa bồi thường gì cho T.
Hành vi của bị cáo Hoàng Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% … thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng … hung khí nguy hiểm …;
Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.
. Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mình đã gây ra.
. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.
. Về xử lý vật chứng: 01 con dao quắm có mũi cong bằng kim loại dài 38cm, có một cạnh sắc, có cán bằng gỗ dài 16cm, dao đã cũ là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
. Về trách nhiệm dân sự:
+ Quá trình điều tra giải quyết vụ án bị cáo chưa bồi thường cho anh T. Tại phiên Tòa anh T giữ nguyên yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại sức khỏe và bồi thường tổn thất tinh thần cho T các khoản cụ thể:
- Chi phí sơ cứu tại Trạm y tế xã La Hiên 300.000 đồng;
- Chi phí thuê xe trên đường đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên: 1.000.000 đồng;
- Chi phí điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên: 30.000.000 đồng;
- Chi phí Thiệt hại do thu nhập bị mất khi nghỉ việc ở công ty để điều trị và phục hồi 60 ngày: 30.000.000 đồng;
- Chi phí bồi thường tổn thất tinh thần và sức khỏe, điều trị chứng tê bì, dị cảm vì bị tổn thương dây thần kinh: 40.000.000 đồng.
Tổng số tiền đề nghị bồi thường: 101.300.000 đồng
+ Tại phiên tòa bị cáo T1 và bị hại anh T không thỏa thuận được việc bồi thường đối với số tiền anh T đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của anh T là cao và một số yêu cầu đề nghị bồi thường không có cơ sở. Tại phiên tòa tuy anh T không giao nộp các liệu, chứng cứ chứng minh thu nhập của mình nhưng hàng tháng anh được Công ty thanh toán tiền lương cơ bản 4.730.000 đồng/1 tháng ngoài ra còn được công ty trả doanh thu (tiền thưởng).
Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 590 Bộ luật dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận các khoản sau:
- Chi phí sơ cứu tại Trạm y tế xã La Hiên 300.000 đồng;
- Chi phí thuê xe trên đường đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, chi phí đi lại khám chữa bệnh: 1.000.000 đồng;
- Hóa đơn bán hàng ngày 02/8/2021 (mua thuốc theo đơn): 624.722 đồng;
- Hóa đơn bán hàng ngày 18/7/2021 (thanh toán viện phí ngoại trú): 165.400 đồng;
- Hóa đơn bán hàng ngày 22/7/2021 (thanh toán viện phí ra viện): 21.050.000 đồng;
- Hóa đơn bán hàng ngày 22/7/2021 (thanh toán viện phí ra viện): 2.390.985 đồng;
- Tiền thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại 9 % là 10 tháng lương cơ sở: 1.490.000đ/1 tháng lương cơ sở x 10 tháng = 14.900.000 đồng.
- Tiền nằm viện từ ngày 18/7/2021 đến ngày 22/7/2021 (5 ngày) và cấp nghỉ thêm 14 ngày từ ngày 23/7/2021 đến ngày 05/8/2021 do không lao động được, tập vận động theo hướng dẫn, cắt chỉ sau mổ. Tổng các ngày được tính là 19 ngày: 300.000 đồng x 19 = 5.700.000 đồng.
- Tiền một người chăm sóc anh T nằm viện và chăm sóc sau khi ra viện. Tổng các ngày được tính là 19 ngày: 300.000 đồng x 19 = 5.700.000 đồng.
Tổng cộng các khoản là: 51.831.107 đồng.
Buộc bị cáo T1 phải bồi thường cho anh T tổng số tiền là: 51.831.107 đồng.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tại phiên toà về hình phạt và các vấn đề có liên quan đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử thấy cần được chấp nhận.
Bởi các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Hoàng Văn T1 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao quắm có mũi cong bằng kim loại dài 38cm, có một cạnh sắc, có cán bằng gỗ dài 16cm, dao đã cũ.
(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục THADS huyện Võ Nhai theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Võ Nhai với Chi cục THA dân sự huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên ngày 15/11/2021).
3. Về trách nhiện dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Hoàng Văn T1 bồi thường cho anh Nguyễn Hữu T số tiền 51.831.107 đồng (Năm mươi mốt triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn một trăm linh bảy đồng).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Buộc bị cáo Hoàng Văn T1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.591.500 đồng (hai triệu năm trăm chín mươi mốt nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự trong hình sự sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Võ Nhai; - Công an huyện Võ Nhai; - Chi cục THADS huyện Võ Nhai; - Bị cáo, bị hại, NLQ; - Lưu: HS, VT, THAHS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Hương |