- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Thị T phạm tội môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội "Môi giới mại dâm". Xử phạt bị cáo Vũ Thị T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2021/HS- ST Ngày: 24- 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Xuân Sang
2. Ông Nguyễn Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Văn Việt, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2021/TLST- HS ngày 04 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2021/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 11 năm 2021; đối với bị cáo:
Vũ Thị T, sinh năm 1975 tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Khu L, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T (đã chết) và con bà Nguyễn Thị M; chồng Ngô Văn T (đã chết), có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người làm chứng: Chị Vũ Thị Thu H, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số nhà ..., phường P, thành phố H.
Anh Vũ Đình S, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Ông Bùi Sỹ C, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn G, xã V, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
(Những người làm chứng vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Thị T và Vũ Thị Thu H là bạn với nhau. Chiều ngày 15/7/2021, T và H đang ngồi chơi với nhau tại quán nước cổng trung tâm y tế huyện Tứ Kỳ thì Vũ Đình S (là người quen của T) gọi điện thoại cho T qua số 0374.871.975 rủ T bán dâm. T đồng ý và hẹn gặp S vào ngày hôm sau. S bảo T tìm cho người phụ nữ nữa để bán dâm cho người đi cùng S. T biết H có nhu cầu bán dâm nên rủ H đi bán dâm, H đồng ý. Khoảng 8 giờ ngày 16/7/2021, S gọi điện thoại cho T thông báo S và bạn S tên Trần Văn Đ sinh năm 1979 trú tại thôn G, xã V, huyện T sẽ gặp T và H. Thấy vậy, T thông báo cho H biết. T, H, S, Đ gặp nhau ở ngã ba thị trấn Tứ Kỳ huyện Tứ Kỳ rồi cả 4 đi vào nhà nghỉ Ánh Bình Minh ở khu A, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ. Vào nhà nghỉ, S thuê cho T và S phòng 205 còn H và Đ phòng 202 để mua bán dâm. Khi vào phòng 205, S trả cho T 300.000 đồng tiền bán dâm. S hỏi “thế em phòng bên kia bao nhiêu". T nói “nó khó khăn thì trả cho nó 400.000 đồng”. S đưa cho T tổng số tiền 700.000 đồng, T cất vào túi quần. Đến 10 giờ 25 cùng ngày, khi T và S đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 205, H và Đ đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 202 của nhà nghỉ Ánh Bình Minh thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, lập biên bản vụ việc, quản lý 02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 vỏ bao cao su đã bị xé, số tiền 700.000 đồng, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung loại galaxy J7 Prime, lắp sim số 0357.346.104, 1 điện thoại nhãn hiệu Samsung loại galaxy grand lắp số sim 0239.694.481. Ngoài ra, cơ quan điều tra còn quản lý 01 xe đạp điện của chị Vũ Thị Thu H, 01 xe máy nhãn hiệu CUBTHAILAND biển số 34AD-006.54 của anh Vũ Đình S
Tại cáo trạng số 58/CT - VKSTK ngày 04-10-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố Vũ Thị T về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng, bị cáo xác định đã có hành vi làm trung gian, dẫn dắt cho H mua bán dâm với người đàn ông tự khai là Trần Văn Đ với số tiền 400.000 đồng như đã nêu trên và đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất.
Anh S là người làm chứng vắng mặt, có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ xác định: Chiều ngày 15/7/2021 có điện thoại cho T rủ T bán dâm và có nhờ T tìm cho người phụ nữ nữa để bán dâm cho bạn của S, anh S có xác định có mua dâm với T tại phòng 205 nhà nghỉ Ánh Bình Minh tại Khu A, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương ngày 16/7/2021.
Chị H là người làm chứng vắng mặt, có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ xác định: Khoảng 10 giờ 25 phút, ngày 16/7/2021 H có mua bán dâm với Đ tại phòng 202 tại nhà nghỉ Ánh Bình Minh là do T môi giới.
Ông C là người làm chứng vắng mặt, có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ xác định: Ngày 16/7/2021 khi S, Đ, T, H vào nhà nghỉ do ông là người quản lý nhà nghỉ Ánh Bình Minh, nghi ngờ các đối tượng thực hiện hành vi mua bán dâm, nên đã trình báo với Công an huyện Tứ Kỳ
VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội "Môi giới mại dâm"; áp dụng khoản 1 Điều 328; điểm s, i khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS; xử phạt phạt bị cáo Vũ Thị T từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 700.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sang sung loại Galaxy J7 Prime; tịch thu cho tiêu hủy sim số 0357.346.104, 02 bao cao su và vỏ bao cao su đã qua sử dụng; về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 15/7/2021, tại khu vực trước cổng Trung tâm y tế huyện Tứ Kỳ, Vũ Thị T (là gái bán dâm) đã có hành vi làm trung gian, dẫn dắt cho người đàn ông tên Trần Văn Đ mua bán dâm với Vũ Thị Thu H. Khoảng 10 giờ 25 phút ngày 16/7/2021 khi Vũ Thị Thu H với Trần Văn Đ đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 202 nhà nghỉ Ánh Bình Minh ở khu A, thị trấn T, huyện Tứ Kỳ thì bị Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện, lập biên bản vụ, thu giữ vật chứng.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi môi giới mại dâm là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Môi giới mại dâm" được quy định tại khoản 1 Điều 328 BLHS. Như vậy, Quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với bị cáo là hoàn toàn đúng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, đồng thời xâm phạm đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, nên cần phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của BLHS.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của BLHS. Do vậy, không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội. Như vậy là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 328 BLHS bị cáo có thể chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, HĐXX thấy bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số tiền 700.000 đồng do T giao nộp đây là tiền do phạm tội mà có cần thu sung vào ngân sách Nhà nước; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy J7 Prime là công cụ phạm tội cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước; sim số 0357.346.104, 02 bao cao su và 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng, cần tịch thu cho tiêu hủy. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung loại Galaxy grand, lắp sim số 0239694481, 01 xe đạp điện cho Vũ Thị Thu H và trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu CUBTHAILAND, biển số 34AD-006-54 cho anh Vũ Duy S là phù hợp.
Trong vụ án này, hành vi bán dâm của Vũ Thị T, Vũ Thị Thu H và hành vi mua dâm của Vũ Duy S, đã bị Công an huyện Tứ Kỳ xử phạt hành chính là phù hợp.
Đối với Trần Văn Đ, sau khi làm việc với cơ quan Công an đã tự ý rời khỏi trụ sở Công an. Quá trình xác minh, Công an xã Văn Tố xác định trê địa bàn xã Văn Tố không có người nào có tên tuổi, địa chỉ như Đức trình bày, do vậy không có căn cứ xử lý. Quá trình điều tra H có khai nhận trước đó được T làm trung gian dẫn dắt cho H bán dâm với một người đàn ông khác. Tuy nhiên, không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý. Anh Bùi Sỹ C là quản lý nhà nghỉ Ánh Bình Minh, khi S, T, H vào nhà nghỉ thuê phòng C nghi ngờ các đối tượng thực hiện hành vi mua bán dâm nên đã trình báo Công an huyện Tứ Kỳ, nên không xem xét xử lý đối với Cường là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm s, i khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của BLHS;
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Thị T phạm tội "Môi giới mại dâm". Xử phạt bị cáo Vũ Thị T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vũ Thị T cho UBND thị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 700.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy J7 Prime; tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su và vỏ bao cao su đã qua sử dụng, sim số 0357.346.104.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 19/10/2021).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử buộc bị cáo Vũ Thị T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; -VKSND huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan T.H.A. HS - Công an huyện Tứ Kỳ; - Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ; - Hồ sơ nghiệp vụ- Công an huyện Tứ Kỳ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Tú |