vanban.org

Bản án 60/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 20/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn L 08 (Tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày đi thi hành án. Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NL
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2021/HS-ST
Ngày 29 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NL TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Trung Thành

Bà Quách Thị Lê

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2021/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L; sinh ngày 15 tháng 10 năm 1997; tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn B, xã LS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C; con bà: Bùi Thị A; sống như vợ chồng với chị Bùi Thị T và có 02 con; tiền sự: Ngày 27/01/2021 bị Công an xã LS, huyện NL Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0056357/QĐ-XPHC về hành vi mua số lô, số đề, phạt tiền 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng), chấp hành nộp phạt ngày 28/01/2021; Ngày 07/4/2021 bị công an xã Minh Tiến, huyện NL Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0056790/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), chấp hành nộp phạt ngày 19/4/2021; Ngày 30/6/2021 bị Công an huyện NL Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0093961/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), chưa chấp hành nộp phạt; tiền án: Không; nhân thân: Ngày 07/10/2021 bị Công an huyện NL Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0093966/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, phạt tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), chưa chấp hành nộp phạt; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/9/2021 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Ông Phạm Hùng L; sinh năm: 1947; nơi cư trú: Thôn MT, xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng:

1. Chị Bùi Thị TH; sinh năm: 1984; nơi cư trú: Thôn G, xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt.

2. Anh Phạm Thanh T; sinh năm: 1978; nơi cư trú: Thôn MT, xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt.

3. Ông Nguyễn Ngọc Đ; sinh năm: 1969; nơi cư trú: Thôn MT, xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt.

4. Anh Hoàng Tấn ĐT; sinh năm: 1987; nơi cư trú: Phố LĐC, thị trấn NL, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt.

5. Bà Bùi Thị A; sinh năm: 1976; nơi cư trú: Thôn B, xã LS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/7/2021, Nguyễn Văn L, sinh năm 1997, trú tại thôn 7, xã LS, huyện NL và Bùi Thị TH, sinh năm 1984, trú tại thôn G, xã MS, huyện NL rủ nhau đi lấy trộm măng bán lấy tiền tiêu sài, TH chuẩn bị bì và dao liềm cầm theo, còn L sử dụng xe mô tô BKS 36M4-9943 chở TH ngồi phía sau, mục đích đi tìm ở đâu có măng luồng thì sẽ lấy trộm. L điều khiển xe mô tô đến thôn MT, xã MS, huyện NL thấy đồi luồng của gia đình ông Phạm Hùng L, sinh năm 1947, trú tại thôn MT, xã MS, huyện NL (Trước đó L không biết đồi luồng này của ai) nên L dừng xe để một mình TH đi vào đồi luồng cắt trộm măng, còn L đứng ngoài cảnh giới. Khi TH đang thực hiện hành vi trộm cắp măng thì bị anh Phạm Thanh T, sinh năm 1978, trú tại thôn MT, xã MS, huyện NL phát hiện, hô hoán người dân xung quanh vây bắt, thấy vậy thì L điều khiển xe mô tô bỏ chạy, còn TH bị bắt lại cùng tang vật là 36 (Ba mươi sáu) cây măng luồng tươi có trọng lượng là 25kg. Sau đó người dân đã đưa TH cùng tang vật về hội trường thôn MT và báo cáo Công an xã MS đến giải quyết. Sau đó Công an xã MS đã chuyển toàn bộ hồ sơ, cùng tang vật của vụ việc đến Công an huyện NL để điều tra theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 26/KL-HĐĐG ngày 31/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản Uỷ ban nhân dân huyện NL, tỉnh Thanh Hoá kết luận: 36 (Ba mươi sáu) cây măng luồng tươi, còn nguyên lớp áo măng, tổng trọng lượng 25kg, giá trị tài sản tại thời điểm xảy ra vụ việc là 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSNL ngày 04 tháng 11 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện NL, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS để xử phạt Nguyễn Văn L mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nào có giá trị, không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.

Về vật chứng: Chiếc bì xác rắn màu đỏ và con dao liềm mà Bùi Thị TH dùng để thực hiện hành vi phạm tội, TH đã vứt bỏ tại hiện trường khi bỏ chạy, không rõ vị trí, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được; các vật chứng còn lại đã được xử lý trong giai đoạn điều tra nên đề nghị không xem xét.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận: Trưa ngày 16/7/2021, vợ bị cáo là Bùi Thị TH có rủ bị cáo đi lấy trộm măng bán lấy tiền, sau khi thống nhất thì TH chuẩn bị bì và dao liềm cầm theo, còn bị cáo lấy xe mô tô chở TH đi lấy trộm. Khi đi đến thôn MT, xã MS, huyện NL thấy đồi luồng thì bị cáo đứng ngoài canh gác, còn TH đi vào đồi luồng cắt trộm măng. Khi TH đang lấy trộm măng thì có người phát hiện nên bị cáo bỏ chạy còn TH bị bắt lại.

Trong quá trình điều tra:

Bị hại ông Phạm Hùng L trình bày: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/7/2021, ông đang ở trong nhà thì người dân xung quanh hô hoán có người trộm măng trong vườn nhà ông. Ông cùng con trai chạy ra ngoài vườn thì phát hiện có một nam, một nữ đang trộm măng trong vườn nên ông đã tri hô bắt trộm. Khi biết mình bị phát hiện người đàn ông bỏ chạy, còn người phụ nữ thì nấp sau gốc cây, ông đã phát hiện, bắt giữ người phụ nữ cùng hai bì măng vừa lấy trộm. Ông đã được nhận lại số măng bị mất trộm và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Người làm chứng chị Bùi Thị TH, anh Phạm Thanh T, ông Nguyễn Ngọc Đ, anh Hoàng Tấn ĐT và bà Bùi Thị Anh thống nhất với nội dung sự việc như cáo trạng đã truy tố bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người làm chứng; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm hình sự: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/7/2021, Nguyễn Văn L và Bùi Thị TH lợi dụng sự sơ hở, không có người trông coi, đã lén lút trộm 36 (Ba mươi sáu) cây măng luồng tươi, trọng lượng là 25kg tại đồi luồng của gia đình ông Phạm Hùng L, tài sản tại thời điểm bị cáo trộm cắp có giá trị: 250.000đ (Hai trăm năm mươi nghìn đồng). Mặc dù tài sản bị cáo trộm cắp dưới 2.000.000đ, nhưng trước đó, ngày 07/4/2021, bị cáo bị Công an xã Minh Tiến, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0056790/QĐ-XPHC phạt tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và ngày 30/6/2021, bị cáo bị Công an huyện NL, tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0093961/QĐ-XPHC phạt tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) đều về hành vi Trộm cắp tài sản. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã có hành vi phạm vào điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ như sau: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai trung thực các tình tiết của vụ án là đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Tuy nhiên, bị cáo đang có tiền sự, nhân thân xấu. Bị cáo đang ở độ tuổi lao động nhưng lại lười lao động và thích thụ hưởng những vật chất mà không phải do bản thân mình tự tạo ra, để có tiền chi tiêu cho bản thân mà đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an, xã hội trên địa bàn. Nên cần xét xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nào có giá trị, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không xem xét.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 36 (Ba mươi sáu) cây măng luồng tươi, trọng lượng là 25kg. Sau khi định giá tài sản trộm cắp, Cơ quan điều tra đã ra trả lại số măng trên cho ông Phạm Hùng L là chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc bì xác rắn màu đỏ và con dao liềm mà Nguyễn Văn L và Bùi Thị TH dùng để thực hiện hành vi phạm tội, Bùi Thị TH đã vứt bỏ tại hiện trường khi bỏ chạy, không rõ vị trí, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Đối với chiếc xe mô tô mà bị cáo sử dụng để đi trộm cắp là xe thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Bùi Thị Anh, sinh năm 1976, trú tại thôn 7, xã LS, huyện NL (mẹ đẻ của L). Bà Anh cho bị cáo mượn xe để đi uống Methadone, bà Anh không biết việc bị cáo sử dụng xe môtô của mình làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định việc bà A cho bị cáo mượn xe không liên quan đến hành vi trộm cắp nên Cơ quan điều tra không thu giữ.

Hành vi cùng với Nguyễn Văn L trộm cắp tài sản của Bùi Thị TH; sinh năm: 1984; nơi cư trú: Thôn G, xã MS, huyện NL, tỉnh Thanh Hoá: giá trị tài sản trộm cắp chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Bùi Thị TH không có tiền án, tiền sự. Vì vậy, Công an huyện NL đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Thị TH về hành vi trộm cắp tài sản là đúng theo quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện NL, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện NL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn L 08 (Tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày đi thi hành án.

Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ