- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2021/HS-ST Ngày 26-10-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phƣơng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phúc Viễn
2. Ông Trƣơng Hoàng Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham
gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phƣơng Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Đinh Nguyễn Nhật A, sinh năm 1998 tại Tiền Giang; CMND 312442070
Nơi cư trú: ấp Thạnh K, xã An Thạnh Th, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Ng sinh năm1960; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân tốt; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
+ Người bào chữa cho bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A:
Ông Trần Ngọc Q là luật sư- Văn phòng luật sư Phạm Thị Kim Tr, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang. (có mặt)
+ Đại diện hợp pháp của bị cáo:
Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1960 (mẹ ruột bị cáo- có mặt)
Nơi cư trú: ấp Thạnh K, xã An Thạnh Th, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Bị hại:
Nguyễn Nhật Tr, sinh năm 2000; (có mặt)
Nơi cư trú: ấp Thạnh Th, xã An Thạnh Th, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Ngƣời làm chứng:
1. Lê Văn D, sinh năm 1998; ( vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Phú H, xã Trung H, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
2. Trần Thanh T, sinh năm 1992 ; (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Tân Th, xã Bình Ph, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi nhậu xong, vào khoảng 22 giờ 00 phút cả nhóm gồm bị cáo, bị hại, Lê Văn D và Trần Thanh T đến quán cà phê ven sông tọa lạc tại Ô2, Khu 2, thị trấn Chợ Gạo uống nước. Sau đó bị cáo và bị hại xảy ra mâu thuẫn đánh nhau nên D cầm ghế nhựa đánh vào khoảng giữa 02 người để can ngăn làm ghế trúng vào người bị cáo. T can ngăn dương ra, còn lại bị cáo bị hại tiếp tục đánh ra đến cửa quán, bị hại dùng nón bảo hiểm đánh trúng mặt bị cáo 1,2 cái. Bị cáo dùng dao bấm dài khoảng 20cm (lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 10cm, cán dao màu đen dài khoảng 10cm, lưỡi dao có thể gập vào cán dao) để trong túi quần đâm nhiều cái trúng vào dùng hông, nách, lưng và tay của bị hại gây thương tích. Bị hại bỏ chạy kêu cứu và được bạn bè đưa đi bệnh viện cấp cứu. Bị cáo đã ném bỏ con dao xuống mé kênh Chợ Gạo gần đó.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 316/2020/TgT ngày 04-8-2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận: “1. Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo vết thương vùng lưng cạnh cột sống; Sẹo vết thương vùng lưng trái; Sẹo vết thương hông lưng trái; sẹo vết thương lưng trái cạnh cột sống; sẹo vết thương ngực đường nách giữa trái; Sẹo vết thương hạ sườn trái đường nách sau; Sẹo vết thương hạ sườn trái đường nách trước; Sẹo dẫn lưu mạng sườn phải; Sẹo mổ đường giữa trên rốn; Vỡ lách đã phẫu thuật cắt lách, vớ thận trái đã phẩu thuật khâu chủ mô thận; Sẹo mổ trùng sẹo vết thương 1/3 giữa sau cẳng tay trái. Đứt gân dạng ngón kéo dài, gân duỗi ngón II,III,IV,V tay trái, khônhg hạn chế vận động cổ tay trái. 2. Kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Nhật Tr là 52%. Thương tích do vật sắc nhọn gây nên”.
Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 33/KL-VPYTW ngày 12/01/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đối với Đinh Nguyễn Nhật A kết luận:
+ Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
+ Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.
Bản cáo trạng số 45/CT-VKSCG ngày 31-5-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố hành vi của bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, e, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt Bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A từ 04–05 năm tù.
Trách nhiệm bồi thường dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo pháp luật.
Vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy vật chứng sau: 01 (một) con dao có lưỡi màu trắng dài khoảng 20cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 10cm, cán dao màu đen dài 10cm, lưỡi dao có thể gập vào cán dao.
Bị hại Nguyễn Nhật Tr xác định các vết thương tích theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 316/2020/TgT ngày 04-8-2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang là do 01 mình bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A gây ra. Trách nhiệm dân sự đề nghị xem xét theo theo đơn yêu cầu. Đối với khoản tiền ăn của bị hại, người nuôi bệnh số tiền 2.925.000 đồng và tiền phục hồi sức khỏe, chức năng bị giảm 200.000.000 đồng Nguyễn Nhật Tr xin rút không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo truy tố. Phân tích nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ như tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, gia đình có công với cách mạng. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bồi thường với tổng số tiền là 317.962.000 đồng là quá mức theo quy định của Bộ luật dân sự không phù hợp với quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có cơ sở xác định: khoảng 22 giờ 00 phút cả nhóm gồm bị cáo, bị hại, Lê Văn D và Trần Thanh T đến quán cà phê ven sông tọa lạc tại Ô2, Khu 2, thị trấn Chợ Gạo uống nước. Sau đó bị cáo và bị hại xảy ra mâu thuẫn đánh nhau, bị hại dùng nón bảo hiểm đánh trúng mặt bị cáo 1,2 cái. Bị cáo dùng dao bấm dài khoảng 20cm (lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài khoảng 10cm, cán dao màu đen dài khoảng 10cm, lưỡi dao có thể gập vào cán dao) để trong túi quần đâm nhiều cái trúng vào dùng hông, nách, lưng và tay của bị hại gây thương tích.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa có cơ sở xác định bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A đã dùng dao bấm dài khoảng 20cm đâm bị hại Nguyễn Nhật Tr nhiều cái với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 52%.
Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm gây án bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nên bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra.
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì:
“ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a dến điểm k khoản 1 Điều này;
Theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì:
“ 1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;”
Như vậy hành vi dùng dao bấm đâm vào người bị hại Nguyễn Nhật Tr được xác định là bị cáo dùng hung khí nguy hiểm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể cho bị hại 52% đã đủ yếu tố cấu thành tội “cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe của bị hại, đây là quyền bất khả xâm phạm của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân.
Xét nguyên nhân dẫn đến đánh nhau là do bị hại có hành vi dùng nón bảo hiểm đánh bị cáo, do không kiềm chế được bản thân nên bị cáo mới lấy con dao bấm đâm bị hại. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nhưng chỉ vì nóng giận tức thời, bị cáo đã dùng dao gây thương tích làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của bị hại, điều đó cũng cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục, bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, bị cáo có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, gia đình có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, e, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của khung hình phạt liền kề.
Lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định.
Lời trình bày và tranh luận của Luật sư bào chữa cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Về phần trách nhiệm dân sự: Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định là có cơ sở.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự:
+ Bị hại Nguyễn Nhật Tr yêu cầu bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A bồi thường các khoản:
- Viện phí, thuốc: 33.467.000 đồng
- Tiền thuê xe cấp cứu + xe đi về + tái khám: 1.770.000 đồng
- Thu nhập thực tế bị mất (tiền ngày công lao động): 05 tháng (từ 24/6/2020 đến 24/11/2020, mỗi tháng làm 20 ngày) 250.000 đồng x 20 x 5= 25.000.000 đồng
- Ngày công lao động của người nuôi bệnh (mẹ ruột) 24 ngày x 200.000 đồng = 4.800.000 đồng
- Tiền tổn thất tinh thần: 50.000.000 đồng
Tổng cộng 115.037.000 đồng.
+ Bị cáo không có khả năng bồi thường theo yêu cầu của bị hại, yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật. Bị cáo, đại diện hợp pháp bị cáo bà Nguyễn Thị Nga đã tự nguyện bồi thường trước 36.000.000 đồng cho bị hại.
Hội đồng xét xử xét thấy: yêu cầu tiền viện phí, thuốc: 33.467.000 đồng; Tiền thuê xe cấp cứu + xe đi về + tái khám: 1.770.000 đồng; Ngày công lao động của người nuôi bệnh (mẹ ruột) 24 ngày x 200.000 đồng = 4.800.000 đồng của bị hại là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu tiền thu nhập thực tế bị mất của bị hại tổng cộng 05 tháng, nhưng không cung cấp được chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp (không có chỉ định của bác sĩ, cơ quan chuyên môn) nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận thu nhập thực tế bị mất trong thời gian nằm viện là 24 ngày x 250.000 đồng = 6.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu bồi thường tiền tiền tổn thất tinh thần là cao so với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần là 35.000.000 đồng.
Đối với yêu cầu tiền phục hồi sức khỏe và chức năng bị giảm tại phiên tòa bị hại không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh chi phí điều trị do ảnh hưởng của vết thương mà bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A gây ra thì bị hại có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu.
Từ phân tích trên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của anh Nguyễn Nhật Tr, cần buộc bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A và đại diện hợp pháp bà Nguyễn Thị Ng liên đới phải bồi thường cho anh Nguyễn Nhật Tr tổng số tiền 81.037.000 đồng (tiền viện phí, thuốc: 33.467.000 đồng; Tiền thuê xe cấp cứu + xe đi về + tái khám: 1.770.000 đồng; Ngày công lao động của người nuôi bệnh (mẹ ruột) 24 ngày x 200.000 đồng = 4.800.000 đồng; tiền mất thu nhập thực tế 6.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần 35.000.000 đồng)
Ghi nhận bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho bị hại 36.000.000 đồng, nên còn phải bồi thường tiếp số tiền 45.037.000 đồng.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm; bị cáo, đại diện hợp pháp bà Nguyễn Thị Nga liên đới phải chịu 2.252.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, e, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
+ Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A, đại diện hợp pháp bà Nguyễn Thị Ng liên đới phải bồi thường tiếp cho anh Nguyễn Nhật Tr số tiền còn lại 45.037.000 đồng.
Kể từ ngày anh Nguyễn Nhật Tr có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Đinh Nguyễn Nhật A, đại diện hợp pháp bà Nguyễn Thị Ng chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm; bị cáo, đại diện hợp pháp bà Nguyễn Thị Nga liên đới phải chịu 2.252.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo, luật sư bào chữa, đại diện hợp pháp bị cáo, bị hại có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo; - Cơ quan Điều tra- Công an huyện Chợ Gạo; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo; - Nhà tạm giữ- Công an huyện Chợ Gạo; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Phƣơng |