- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Ngọc H - Vũ Mạnh L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Ngọc H được ly hôn anh Vũ Mạnh L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2021/HNGĐ-ST Ngày 29-04-2021 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Biên
Bà Nguyễn Thị Mai Vinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 29 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2021 về tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Ngọc H, sinh năm 1985; ĐKHKTT: Số 25/28 AĐ, phường LT, quận NQ, thành phố Hải Phòng; hiện tạm trú tại: Ba Lan.
- Bị đơn: Anh Vũ Mạnh L, sinh năm 1985; Cư trú tại: Số 25/28 AĐ, phường LT, quận NQ, thành phố Hải Phòng.
Chị Vũ Ngọc H, anh Vũ Mạnh L đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn là chị Vũ Ngọc H trình bày:
Chị Vũ Ngọc H và anh Vũ Mạnh L kết hôn do tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường LT, quận NQ, thành phố Hải Phòng vào ngày 12/11/2010. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc, đến tháng 11/2018, chị H sang Ba Lan lao động. Từ khi chị H đi, vợ chồng anh chị thường xảy ra mâu thuẫn, căng thẳng nhất khoảng cuối năm 2019, nguyên nhân do vợ chồng anh chị sống xa nhau nên luôn bất đồng quan điểm sống, anh chị đã được gia đình hai bên động viên và hòa giải nhưng không có kết quả. Do dịch bệnh, chị H không về Việt Nam được, anh chị đã bàn bạc và cùng quyết định ly hôn. Chị H đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Mạnh L.
- Về con chung: Chị Vũ Ngọc H và anh Vũ Mạnh L có 01 con chung tên là Vũ Minh GB, sinh ngày 19/01/2011, khi ly hôn chị H đề nghị giao con chung cho anh L nuôi cho đến khi trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Vũ Ngọc H và anh Vũ Mạnh L không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Vũ Ngọc H hiện đang cư trú tại Ba Lan có đơn xin ly hôn, bản tự khai gửi Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã được chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự tại Đại sứ quán Việt Nam ở Cộng hòa Ba Lan. Chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết vắng mặt chị, không yêu cầu hòa giải và ủy quyền cho chị Vũ Phương Thúy là em gái của chị Vũ Ngọc H nộp thay các tài liệu do chị gửi về và nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án.
Trong Bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt của bị đơn là anh Vũ Mạnh L trình bày:
Anh Vũ Mạnh L trình bày thống nhất với lời khai của chị Vũ Ngọc H về việc kết hôn, chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn. Anh xác nhận đến nay tình cảm vợ chồng không còn, anh chị mỗi người một nơi nên anh đồng ý và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh được ly hôn với chị Vũ Ngọc H.
Về con chung: Anh L và chị H có 01 con chung tên là Vũ Minh Gia Bảo, sinh ngày 19/01/2011, khi ly hôn, anh L đề nghị giao con chung cho anh L nuôi cho đến khi trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do chị Vũ Ngọc H và anh Vũ Mạnh L đề nghị không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.
Tại phiên tòa, chị Vũ Ngọc H và anh Vũ Mạnh L đều vắng mặt, Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Vũ Ngọc H hiện đang cư trú tại Ba Lan có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Mạnh L hiện đang cư trú tại Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là chị Vũ Ngọc H và bị đơn là anh Vũ Mạnh L đều vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Ngọc H và anh Vũ Mạnh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường LT, quận NQ, thành phố Hải Phòng vào ngày 12/11/2010 nên theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của chị H, anh L và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện do chị H và anh L sống xa cách nhau nên nảy sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ gia đình, mặc dù đã được gia đình hai bên động viên và hòa giải nhưng không có kết quả. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị H và anh L đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị Vũ Ngọc H xin ly hôn với anh Vũ Mạnh L và được anh Vũ Mạnh L hoàn toàn đồng ý phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Vũ Ngọc H được ly hôn anh Vũ Mạnh L.
Về con chung: Chị Vũ Ngọc H và anh Vũ Mạnh L có 01 con chung tên là Vũ Minh GB, sinh ngày 19/01/2011, khi ly hôn chị H đề nghị giao con chung cho anh L nuôi cho đến khi trưởng thành; anh L đồng ý với đề nghị của chị H và phù hợp với nguyện vọng của cháu B nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 81, Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử chấp nhận đề nghị của chị H và anh L, giao con chung cho anh Vũ Mạnh L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H, anh L tự thỏa thuận, tạm thời không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết
Về tài sản chung: Chị Vũ Ngọc H và anh Vũ Mạnh L không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm:
Chị Vũ Ngọc H là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Vũ Ngọc H và anh Vũ Mạnh L được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Ngọc H được ly hôn anh Vũ Mạnh L.
2. Về con chung: Giao con chung tên là Vũ Minh GB, sinh ngày 19/01/2011 cho anh Vũ Mạnh L trực tiêp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Vũ Ngọc H và anh Vũ Mạnh L tạm thời không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Chị Vũ Ngọc H và anh Vũ Mạnh L không có tài sản chung, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Vũ Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0018816 ngày 05 tháng 4 năm 2021 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, chị H đã nộp đủ.
5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Anh Vũ Mạnh L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Chị Vũ Ngọc H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSNDTP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - UBND phường LT, quận NQ, thành phố Hải Phòng; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà |