vanban.org

Bản án 60/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Phan Thị T được ly hôn anh Nguyễn Duy T1.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung Nguyễn Thị T2, sinh ngày 02 tháng 02 năm 2017 cho chị Phan Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chị T và anh T1"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Phan Thị T được ly hôn anh Nguyễn Duy T1.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2021/HNGĐ-ST
Ngày 14 - 9-2021
V/v ly hôn và nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Khúc Thị Minh

Bà Đặng Thị Đôi

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quý Linh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 122/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2021 về việc “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2021/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm 1986; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K1, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn T1, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Duy T1, sinh năm 1986; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K1, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 28 tháng 6 năm 2021 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện K, nguyên đơn là chị Phan Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Duy T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 9 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn anh, chị cùng chung sống tại thôn K1, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được khoảng hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng không có tiếng nói chung, anh T1 mải chơi không quan tâm, chăm lo đến cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải xong không cải thiện được mà ngày càng căng thẳng hơn. Chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ năm 2018 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân chị T và anh T1 không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn Duy T1.

Về con chung: Chị T khai vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị T2, sinh ngày 02 tháng 2 năm 2017. Trường hợp ly hôn chị T đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị T tự thỏa thuận với anh T1, do vậy không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị T để tự thỏa thuận với anh T1, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Duy T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đến ngày Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ hai anh T1 vẫn không có mặt tại Tòa án để có ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị T.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Thị T và anh Nguyễn Duy T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị T được ly hôn anh T1. Về con chung, giao con là Nguyễn Thị T2 cho chị T nuôi dưỡng; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị T và anh T1 tự thỏa thuận giải quyết nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung do chị T không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:: Nguyên đơn là chị Phan Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Nguyễn Duy T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ để anh T1 có mặt tại Toà án trình bày ý kiến của mình về việc chị Phan Thị T có đơn xin ly hôn nhưng anh T1 vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn là chị Phan Thị T và bị đơn là anh Nguyễn Duy T1.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Thị T và anh Nguyễn Duy T1 là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T1 mải chơi, không quan tâm đến cuộc sống gia đình nên hai vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Do mâu thuẫn nên chị T và anh T1 đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình anh T1 thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 phù hợp với lời khai của chị T. Chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1, anh T1 không có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án và vắng mặt tại các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa xét xử. Như vậy thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, khả năng vợ chồng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T xin ly hôn với anh T1.

Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung là Nguyễn Thị T2, sinh ngày 02 tháng 02 năm 2017. Trường hợp ly hôn chị T đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T2 vì hiện nay cháu T2 hiện đang sống cùng chị và chị vẫn đảm bảo việc chăm sóc cháu phát triển tốt về mọi mặt. Mặt khác chị có nơi ở ổn định và hiện tại chị đang làm công nhân, có mức thu nhập ổn định để có thể nuôi dưỡng con. Việc giao con chưa thành niên cho ai nuôi cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên cũng như đảm bảo quyền được chăm sóc nuôi dưỡng con của cả cha, mẹ. Xét hiện nay, chị T có công việc và thu nhập ổn định, có đủ các điều kiện để có thể nuôi dưỡng và chăm sóc con tốt; anh T1 không có mặt và không có ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung. Như vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị T, giao cháu Nguyễn Thị T2 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị T để tự thỏa thuận với anh T1, vì vậy tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của anh T1 cho đến khi chị T có yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị T khai vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết, anh T1 vắng mặt và chưa có lời khai về tài sản chung vợ chồng, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về hôn nhân: Chị Phan Thị T được ly hôn anh Nguyễn Duy T1.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Nguyễn Thị T2, sinh ngày 02 tháng 02 năm 2017 cho chị Phan Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

2.2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của anh Nguyễn Duy T1 cho đến khi chị T có yêu cầu.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phan Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số 0009364 ngày 09/7/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng. Chị T đa nô ̣̃ p đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Duy T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ