vanban.org

Bản án 60/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 30/12/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cƣ́ Điều 702 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30…

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều T đối với và Trần Thị T1 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất. 1. Công nhận hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị T1 với bà Nguyễn Thị Kiều T đƣợc thể hiện bằng Hợp đồng sang nhƣợng ngày 13/02/2004 và Giấy … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Căn cƣ́ Điều 702 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30…
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
—————————
Bản án số: 60/2021/DS-ST
Ngày 30-12-2021
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhƣợng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thu Thủy;

2. Ông Phạm Minh Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thƣ ký Tòa án nhân dân th ành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 91/2021/TLST-DS ngày 06/4/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 70/2021/QĐXXST-DS ngày 16/11/2021, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều T; sinh năm 1974; địa chỉ: 10A/6 khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Đỗ Thành H, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ 2 khu phố K, phƣờng T, thị xã T, tỉnh B – là ngƣời đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 08/3/2021). Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Doãn H – Luật sƣ thuộc Công ty Luật hợp danh N; địa chỉ: 467/7 Đại lộ B, khu phố 1, phƣờng P, thành phố T, tỉnh B. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn 2, xã C, huyện C, tỉnh Đ. Vắng mặt.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Gịp Sắn S; sinh năm 1972; địa chỉ: 10A/6 khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh B. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 08/3/2021 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Trƣớc đây, bà Trần Thị T1 là chủ sử dụng phần đất có diện tích 95m2, thuộc thửa đất số 863, tờ bản đồ số 11, tại ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh B. Phần đất này đã đƣợc Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2683QSDĐ/TĐH ngày 02/10/2000. Năm 2004, bà Trần Thị T1 đã thỏa thuận chuyển nhƣợng toàn bộ phần đất có diện tích 95m2 nêu trên cho bà Nguyễn Thị Kiều T với số tiền chuyển nhƣợng là 60.000.000 đồng, thể hiện qua Hợp đồng sang nhƣợng đất ngày 13/02/2004 và Giấy ủy quyền ký kết ngày 25/04/2004. Số tiền nhận chuyển nhƣợng đất trên bà T đã thanh toán đủ cho bà Trần Thị T1. Vào thời điểm đấy do bà Trần Thị T1 đang làm việc và sinh sống tại thôn 2, xã C, huyện C, tỉnh Đ nên chƣa tiến hành thủ tục sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T. Tuy nhiên, bà T1 đã giao đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T nhận và bà T trực tiếp quản lý, sử dụng, đồng thời bà T đã tiến hành xây dựng công trình trên đất bao gồm: 01 nhà ở và 04 phòng trọ.

Hiện nay bà Trần Thị T1 đã đƣợc cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN số CS27279 ngày 10/12/2019 (giấy mới) đối với phần đất có diện tích 95m2 nêu trên, với các thông tin đƣợc cập nhật mới là: diện tích đất đo đạc thực tế giảm còn 93,8m2, thuộc thửa đất số 3399, tờ bản đồ số 41, tọa lạc khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B.

Sau đó, bà T đã nhiều lần liên hệ và yêu cầu bà Trần Thị T1 hỗ trợ bà để hoàn tất thủ tục sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên cho mình. Tuy nhiên, bà Trần Thị T1 không đồng ý ra công chứng ký kết hợp đồng chuyển nhƣợng với lý do thửa đất mới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới không đúng với số thửa, tờ bản đồ cũ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2683QSDĐ/TĐH ngày 02/10/2000 đã cấp cho bà.

Vì vậy, bà T1 khởi kiện yêu cầu:

+ Công nhận Hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất đƣợc thể hiện dƣới dạng Hợp đồng sang nhƣợng đất ngày 13/02/2004 và Giấy ủy quyền ngày 25/04/2004 giữa bà Nguyễn Thị Kiều T với bà Trần Thị T1 đối với phần đất có diện tích 95m2 (nay giảm còn 93,8m2), thuộc thửa đất số 863 (nay là thửa đất số 3399), tờ bản đồ số 11 (nay là tờ bản đồ số 41), tọa lạc tại ấp Đ (nay là khu phố T), xã (nay là phƣờng) T, huyện (nay là thành phố) D, tỉnh B, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS27279 do Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 10/12/2019 mang tên bà Trần Thị T1.

+ Công nhận cho bà Nguyễn Thị Kiều T quyền quản lý, sử dụng và đƣợc quyền đăng ký, làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 95m2 (nay giảm còn 93,8m2), thuộc thửa đất số 863 (nay là thửa đất số 3399), tờ bản đồ số 11 (nay là tờ bản đồ số 41), tọa lạc tại ấp Đ (nay là khu phố T), xã (nay là phƣờng) T, huyện (nay là thành phố) D, tỉnh B.

- Tại Đơn đề nghị ngày 05/4/2021 bị đơn bà Trần Thị T1 trình bày:

Ngày 25/4/2004 bà có bán cho bà Nguyễn Thị Kiều T một mảnh đất với diện tích 95m2. Sau khi hai bên thỏa thuận xong bà đã nhận tiền và giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và mọi giấy tờ có liên quan cho bà T1 để bà T tự sang tên nhƣng không hiểu lý do gì mà bà T để đến năm 2019 bà T mới tìm đến địa chỉ nhà bà để nhờ bà cung cấp bổ sung giấy tờ để sang tên. Bà cũng đã cung cấp giấy tờ và ký vào mẫu đơn đầy đủ cho bà T.

Đến ngày 25/12/2019 bà T báo cho bà T1 là giấy tờ đã xong nên nói bà T1 xuống ký giấy tờ để sang tên cho bà T. Tuy nhiên, sau khi bà T1 xuống thì bà T đƣa ra cho bà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhƣng thông tin trên giấy này chỉ đúng tên và địa chỉ của bà T1, còn số sê-ri, số thửa đất và tờ bản đồ không đúng với hồ sơ đất của bà nên bà không đồng ý ký hợp đồng công chứng cho bà T. Nay bà T1 yêu cầu Tòa án xác minh thửa đất bà đã chuyển nhƣợng cho bà T có thay đổi thì bà mới đồng ý ký hợp đồng chuyển nhƣợng cho bà T.

- Tại bản tự khai ngày 25/5/2021, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Gịp Sắn S trình bày:

Ông Gịp Sắn S là chồng của bà Nguyễn Thị Kiều T. Ông hoàn toàn thống nhất với phần trình bày và yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kiều T.

- Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị T1 và bà Nguyễn Thị Kiều T không vi phạm điều kiện về chủ thể và nội dung; còn về hình thức thì hợp đồng chƣa đƣợc công chứng hoặc chứng thực theo quy định. Tuy nhiên, sau khi chuyển nhƣợng bà T đã thanh toán tiền đầy đủ, bà T1 đã giao đất cho bà T xây dựng nhà ở trên đất từ đó cho đến nay. Do đó, căn cứ vào hƣớng dẫn của Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì đủ điều kiện để công nhận hợp đồng.

- Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện trên đất tranh chấp hiện có: 01 nhà ở riêng lẻ diện tích 31,5m2; 01 nhà ở cho thuê (nhà trọ) diện tích 43m2, 01 nhà tạm, 01 mái che tôn. Các tài sản trên đất là của bà Nguyễn Thị Kiều T xây dựng từ năm 2004.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tham gia phiên tòa:

Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đƣơng sự là hợp lệ.

Về nội dung vụ án, xét thấy nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất theo Hợp đồng sang nhƣợng ngày 12/3/2004; nguyên đơn đã nhận đất và cất nhà ở trên đất, bị đơn đã đƣợc thanh toán tiền đầy đủ nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tòa án triệu tập bà T1 tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhƣng bà T1 vắng mặt. Ngƣời đại diện theo ủy quyền của bà T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án không thể tiến hành hòa giải đƣợc. Ngƣời đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Trần Thị T1 đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 15/12/2021 và ngày 30/12/2021 nhƣng bà T1 vắng mặt hai lần liên tiếp; Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Gịp Sắn S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đƣơng sự theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Giữa bà Trần Thị T1 và bà Nguyễn Thị Kiều T có quan hệ giao dịch chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất, theo đó bà T1 có chuyển nhƣợng cho bà T diện tích đất 95m2 tại ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh B, giá chuyển nhƣợng là 60.000.000 đồng. Điều này đƣợc thể hiện tại Hợp đồng sang nhƣợng ngày 13/02/2004 (giấy tay). Việc chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất này hai bên đã thực hiện trên thực tế, cụ thể là bà T1 đã giao đất và toàn bộ giấy tờ đất cho bà T quản lý, sử dụng từ đó đến nay; bà T đã thanh toán tiền cho bà T1 đầy đủ. Những vấn đề này đã đƣợc bà T và bà T1 thừa nhận trong Đơn khởi kiện, bản tự khai của bà T và Đơn đề nghị ngày 05/4/2021 của bà T1. Sự thừa nhận của các đƣơng sự cũng phù hợp với những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nhƣ: Hợp đồng sang nhƣợng ngày 13/02/2004, giấy ủy quyền ngày 25/4/2004.

Thời điểm thỏa thuận thực hiệc việc chuyển nhƣợng này, diện tích đất chuyển nhƣợng là 95m thuộc thửa 863, tờ bản đồ số 11 tọa lạc ấp Đ, xã T, huyện D đã đƣợc cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Trần Thị T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2683QSDĐ/TĐH ngày 02/10/2000. Hiện nay thửa đất này đã đƣợc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới (Giấy chứng nhận QSDĐ số 27279 ngày 10/12/2019). Căn cứ hồ sơ đăng ký biến động do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An cung cấp cho Tòa án thể hiện: Bà T1 có ký giấy ủy quyền cho bả Nguyễn Thị Kim S hoàn tất mọi thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho phù hợp với thông tin bản đồ địa chính hiện hữu (Giấy ủy quyền ngày 27/5/2019). Theo nội dung xác nhận thay đổi thông tin sử dụng đất ngày 13/8/2019 của Uỷ ban nhân dân thành phố Dĩ An đƣợc thể hiện tại trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2683QSDĐ/TĐH ngày 02/10/2000, thì thông tin thửa đất của bà T1 chuyển nhƣợng cho bà T đã đƣợc điều chỉnh, cụ thể nhƣ: Nội dung về chủ sử dụng đất “Hộ Trần Thị T1” đƣợc đính chính lại là “bà Trần Thị T1”; số chứng minh nhân dân của bà Trần Thị T1 đƣợc đƣợc thay đổi từ số “161310898” thành “245117035”; địa chỉ thƣờng trú của bà T1 thay đổi từ “xã P, T, N” thành “Thôn 2, C, C, tỉnh Đ”; địa chỉ thửa đất thay đổi từ “ấp Đ, xã T, huyện D, tỉnh B” thành khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B”. Sau đó, trên cơ sở hồ sơ xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T1 (ủy quyền cho bà S) thì thửa đất của bà T1 chuyển nhƣợng cho bà T đã đƣợc cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới (Giấy chứng nhận QSDĐ số 27279 ngày 10/12/2019) với các thông tin: diện tích 93,8m2 (theo đo đạc thực tế) thuộc thửa đất số 3399, tờ bản đồ số 41 tại khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B. Tại văn bản số 2309/CNVPĐKĐĐ-LT ngày 20/5/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An phúc đáp cho Tòa án cũng xác nhận những thông tin biến động nêu trên về thửa đất của bà Trần Thị T1. Nhƣ vậy, có đủ cơ sở xác định thửa đất bà T1 chuyển nhƣợng cho bà T hiện nay là thửa đất số 3399, tờ bản đồ số 41, diện tích theo đo đạc thực tế là 93,8m2.

Theo ý kiến của bà T1 tại Đơn đề nghị ngày 05/4/2021 thì bà T1 thừa nhận có việc chuyển nhƣợng đất cho bà T và đã nhận tiền đủ, đã giao đất và giấy tờ đất cho bà T để hoàn tất thủ tục chuyển nhƣợng. Tuy nhiên, bà T1 không đồng ý ký hợp đồng chuyển nhƣợng công chứng cho bà T vì lý do thửa đất có thay đổi số thửa. Qua ý kiến của bà T1 cho thấy hiện nay bà T1 cũng không có tranh chấp gì với bà T mà do có sự thay đổi về thông tin thửa đất nên bà T1 không đồng ý hoàn tất thủ tục chuyển nhƣợng theo quy định cho bà T với những thông tin khác thông tin thửa đất tại thời điểm bà T1 thỏa thuận chuyển nhƣợng cho bà T.

Xét thấy, việc chuyển nhƣợng giữa bà T1 và bà T là có thật, hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật; chỉ vi phạm điều kiện về hình thức của hợp đồng theo quy định của pháp luật tại thời điểm chuyển nhƣợng. Tuy nhiên, theo hƣớng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004, điểm b.3 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II thì: “Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng.”. Trong trƣờng hợp này, phần đất chuyển nhƣợng bà T1 đã giao cho bà T quản lý, sử dụng và bà T đã cất nhà ở trên đất, vì vậy hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa bà T1 với bà T đủ điều kiện để đƣợc công nhận.

Từ những phân tích trên, xét thấy bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa bà với bà T1 đƣợc thể hiện bằng Hợp đồng sang nhƣợng ngày 13/02/2004, Giấy ủy quyền ngày 25/4/2004 và công nhận cho bà T đƣợc quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích đất theo đo đạc thực tế là 93,8m2, thuộc thửa đất số 3399, tờ bản đồ số 41 là có căn cứ chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa và quan điểm pháp lý của Luật sƣ bảo vệ quyền và hợp pháp cho nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kiều T đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá và tự nguyện chịu chi phí này.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị T1 phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cƣ́ Điều 702 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 92, 144, 147, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kiều T đối với và Trần Thị T1 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất.

1.1. Công nhận hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị T1 với bà Nguyễn Thị Kiều T đƣợc thể hiện bằng Hợp đồng sang nhƣợng ngày 13/02/2004 và Giấy ủy quyền ngày 25/4/2004.

1.2. Bà Nguyễn Thị Kiều T đƣợc quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích đất theo đo đạc thực tế là 93,8m2, thuộc thửa đất số 3399, tờ bản đồ số 41 (có trích lục bản đồ địa chính kèm theo) tọa lạc khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B (Giấy chứng nhận QSDĐ số 27279 ngày 10/12/2019 cấp cho bà Trần Thị T1).

Bà Nguyễn Thị Kiều T đƣợc quyền đăng ký biến động thông tin chủ sử dụng đất sang tên cho bà trên cơ sở hợp đồng chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa bà với bà Trần Thị T1 đƣợc Tòa án công nhận.

2. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kiều T tự nguyện chịu 3.300.000 (ba triệu ba trăm nghìn) đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp tại Tòa án.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị T1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kiều T 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đa nô ̣̃

p theo biên lai thu ti ền số 0049460 ngày 02/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

4. Các đƣơng sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

5. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ