- Tranh chấp gì? án hình sự — "NTT - trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2020/HS-ST Ngày 05-3-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Trai
2. Ông Ngũ Minh Luận
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hiền là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2020/TLST- HS ngày 11 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/QĐXXST – HS ngày 20 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
NTT, sinh năm 1971 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 152 NK, P 2, Q 4, TPHCM; Nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông NT2, sinh năm 1937 (đã chết) và bà PTS, sinh năm 1950 (đã chết), vợ BTTT3, sinh năm 1971, có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 18/11/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc, chấp hành xong ngày 10/12/2016; bị bắt tạm giam ngày 19/10/2019, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà NTO, sinh năm 1967; thường trú: 12/2 KPĐ, PVP, TX TA, tỉnh BD, có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông MTĐ, sinh năm 1981; thường trú: 33/38B KH7, phường TP, Thành phố BH, tỉnh ĐN, vắng mặt.
- Người làm chứng: TVT4, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân NTT là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm nên T có ý định đi trộm cắp tài sản sơ hở của người dân để bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Thực hiện ý định trên, khoảng 12 giờ 40 phút ngày 19/10/2019 NTT đi bộ hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực phường Vĩnh Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến trước cửa hàng điện thoại di động Tuấn 2, cạnh tiệm sửa xe gắn máy Hưng Thịnh địa chỉ 12/2 khu phố Đông, phường Vĩnh Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương thì phát hiệu 01 xe mô tô biển số 60T9-7198 đang dựng ngay trước tiệm, chìa khóa vẫn còn cắm ổ khóa, không có người trông coi, T đi đến đẩy lùi xe ra đường thì bị té ngã cùng xe. Lúc này ông TVT là nhân viên tiệm sửa xe máy Hưng Thịnh phát hiện, tri hô cùng người dân bắt giữ Tùng và tang vật giao cho công an xử lý.
Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, dung tích xy lanh 107cm3, biển số 60T9-7198, số khung VPDDCH0B5PD049757, số máy VRFPD1P52FMH-3*00049757*.
Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Thuận An kết luận: 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, dung tích xy lanh 107cm3, biển số 60T9-7198, số khung VPDDCH0B5PD049757, số máy VRFPD1P52FMH-3*00049757* có giá trị 2.300.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 62/CT-VKS-TA ngày 10 tháng 02 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo NTT về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng đã truy tố, phân tích tính chất, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo NTT mức hình phạt từ 07 (bảy) tháng tù đến 10 (mười) tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng như sau: Đối với vật chứng 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, dung tích xy lanh 107cm3, biển số 60T9-7198, số khung VPDDCH0B5PD049757, số máy VRFPD1P52FMH-3*00049757* là của bà NTO, bà O cho biết xe mô tô trên của một người thanh niên không rõ lai lịch, địa chỉ đến tiệm Hưng Thịnh của bà để sửa chữa. Sau khi sửa chữa xe xong, ông T đã dựng xe trước cửa hàng điện thoại di động Tuấn 2 thì bị NTT thực hiện hành vi trộm cắp. Qua xác minh được biết ông MTĐ đứng tên chủ sở hữu, qua làm việc ông Đ đã bán xe mô tô nói trên cho một người không rõ lai lịch vào năm 2014 nên không có yêu cầu gì đối với xe mô tô này. Cơ quan điều tra đã tiến hành thông báo trên Đài phát thanh – Truyền hình tỉnh Bình Dương tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ giải quyết nên đề nghị giao xe mô tô nói trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An tiếp tục xác minh làm rõ.
Tại phiên tòa bị cáo NTT đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của bị hại NTO trong quá trình điều tra: Xin nhận lại xe mô tô hiệu biển số 60T9-7198 và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông MTĐ trong quá trình điều tra: Không có ý kiến gì.
Lời khai của người làm chứng đã trình bày trong quá trình điều tra và không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo NTT đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 19/10/2019 tại địa chỉ 12/2 khu phố Đông, phường Vĩnh Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương NTT có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô kiểu dáng Wave biển số 60T9-7198 trị giá 2.300.000 đồng thì bị bắt quả tang. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo NTT về “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự và sẽ bị xử lý nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, muốn có tài sản sử dụng không phải bằng sức lao động của mình nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Wave, dung tích xy lanh 107cm3, biển số 60T9-7198, số khung VPDDCH0B5PD049757, số máy VRFPD1P52FMH-3*00049757* là của bà NTO, bà O cho biết xe mô tô trên của một người thanh niên không rõ lai lịch, địa chỉ đến tiệm Hưng Thịnh của bà để sửa chữa. Sau khi sửa chữa xe xong, ông T đã dựng xe trước cửa hàng điện thoại di động Tuấn 2 thì bị NTT thực hiện hành vi trộm cắp. Qua xác minh được biết ông MTĐ đứng tên chủ sở hữu, qua làm việc ông Đ đã bán xe mô tô nói trên cho một người không rõ lai lịch vào năm 2014 nên không có yêu cầu gì đối với xe mô tô này. Cơ quan điều tra đã tiến hành thông báo trên Đài phát thanh – Truyền hình tỉnh Bình Dương tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ giải quyết nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao xe mô tô nói trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An tiếp tục xác minh làm rõ.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 47; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo NTT phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo NTT 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Giao 01 xe mô tô 02 bánh kiểu dáng Wave, dung tích xy lanh 107cm3, biển số 60T9-7198, số khung VPDDCH0B5PD049757, số máy VRFPD1P52FMH-3*00049757* cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An tiếp tục xác minh làm rõ. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/02/2020).
3. Về án phí: Bị cáo NTT phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dương; - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Nhâm |