vanban.org

Bản án 60/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 19/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc H phạm tội : “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Ngọc H 24 (hai tư) tháng tù. Thời hạnh chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/10/2019. Về phần dân sự: Công nhận phần dân sự giữa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã giải quyết xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc H phạm tội : “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2020/HS-ST
Ngày: 19/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mai Thị Tiếp

2. Ông Lê Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Khánh Toàn

- Kiểm sát viên

Ngày 19/02/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020, đối với bị cáo:

Lê Ngọc H - Sinh năm 1967 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn N và bà: Nguyễn Thị D (đã chết); vợ: Nguyễn Thị Đ (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 1989; tiền án: không; tiền sự: năm 2017 Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa quyết đinh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng; nhân thân: năm 1990 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội "trộm cắp tài sản"; năm 1997 Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội xử phạt 13 năm 05 tháng 14 ngay tù về tội "cướp tài sản công dân"; Năm 1998 bị TAND huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”; Năm 2013 TAND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương xử phạt 24 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ ngày 29/10/2019, tạm giam ngày 07/11/2019 tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn H - Sinh năm 1988(vắng).

Trú tại: phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Xuân N – Sinh năm 1951(vắng).

Trú tại: Thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 23/10/2019, sau khi xuống xe khách tại quốc lộ 1A, thuộc xã Hoằng Lý, TP. Thanh Hóa Lê Ngọc H một mình đi bộ tắt cánh đồng Hỏa Xa AB, phía sau công ty Hoàng Sơn, thuộc Thôn 4, xã Hoằng Lý, TP. Thanh Hóa để về nhà. Lúc này H nhìn thấy 01 cặp bò mẹ, con, bò mẹ có đặc điểm long vàng cánh gián, có sừng dài khoảng 20 cm, cân nặng 380 kg. Bò con giới tính đực, long màu vàng cánh gián cân nặng 80 kg của gia đình anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1968, ở phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đang được chăn thả, bò mẹ được cột bằng đoạn dây thừng vào cọc ở bờ ruộng. Quan sát không có người trông coi, H đi lại rút cọc cột bò rồi dắt bò đi theo hướng quốc lộ 1A và chào bán cho anh Nguyễn Văn Tơ, sinh năm 1963 ở thôn Tây Phúc xã Hoằng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa nhưng anh Tơ không mua. H tiếp tục dắt bò đến bán cho anh Nguyễn Hữu Thống, sinh năm 1968, ở thôn 4, xã Hoằng Hợp, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa nhưng anh Thống không mua. H tiếp tục dắt bò về xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa và cột bò ngoài đồng, sau đó vào quán Cà phê Trúc Sinh thuộc xã Hoằng Kim, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa thì tình cờ gặp anh Lê Văn Tám, sinh năm 1975 ở thôn Xa Vệ, xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa đang ngồi uống nước cùng với anh Lê Văn Hùng, sinh năm 1986, ở thôn 3, xã Hoằng Kim, huyện Hoằng Hóa. Lúc này H nhờ anh Tám tìm người cần mua bò, Tám biết Hùng làm nghề mổ lợn nên hỏi Hùng có mua không, Hùng trả lời cứ mang bò đến xem. Sáng 24/10/2019, H dắt cặp bò đến cột trước cổng nhà Hùng, thấy bò to quá nên Hùng không mua. H tiếp tục nhờ Tám tìm người mua bò, nên sáng 25/10/2019 anh Tám dẫn H dắt cặp bò đến nhà ông Vũ Xuân N, sinh năm 1951, ở Thôn X, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa là người gần nhà và có quan hệ họ hàng với Tám, sau khi xem cặp bò ông N trả giá 20.000.000đ thì H đồng ý bán. Do trong nhà chỉ còn 10.000.000đ nên ông N trả trước cho H 10.000.000đ, và hẹn 10 ngày sau sẽ trả hết số tiền còn lại, H cầm tiền rồi ra về ăn tiêu cá nhân hết. Đến ngày 29/10/2019 Lê Ngọc H đến cơ quan Công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Ngày 31/10/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thanh Hóa tiến hành định giá 01 con bò mẹ nặng 380 kg giá trị 26.000.000đ; 01 bê con nặng 80 kg giá trị 8.000.000đ. Tổng giá trị cặp bò là 34.600.000đ.

Ngày 25/12/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thanh Hóa đã trả lại cặp bò mẹ con cho bị hại, anh Nguyễn Văn Hải đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Đối với ông Lê Văn T, Vũ Xuân N là người giới thiệu và mua cặp bò do Lê Ngọc H trộm cắp nhưng anh T và ông N không biết được tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

Anh Lê Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Hữu Th không biết được tài sản do Huệ phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS-KT ngày 02/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Lê Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015. Về hình phạt VKS đề nghị xử phạt Lê Ngọc H mức án từ 18 đến 24 tháng tù và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện VKS.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, tuy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại gì.

Về hành vi phạm tội:

Khoảng 12 giờ ngày 23/10/2019, tại cánh đồng Hỏa Xa AB, phía sau công ty Hoàng Sơn, thuộc Thôn 4, xã Hoằng Lý, TP. Thanh Hóa, Lê Ngọc H phát hiện 01 cặp bò mẹ con, bò mẹ có đặc điểm long vàng cánh gián cân nặng 380 kg, bò con giới tính đực, long màu vàng cánh gián cân nặng 80 kg của gia đình anh Nguyễn Văn H với tổng giá trị là 34.600.000đ (ba mươi tư triệu, sáu trăm nghìn đồng) không có người trông coi nên đã dắt cặp bò mang đi bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với báo cáo của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của Lê Ngọc H có đủ các dấu hiệu cấu thành tội "trộm cắp tài sản". Tội phạm và khung hình phạt được quy đinh tại khoản 1 Điều 173 BLHS như cáo trạng của VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Lợi dụng chủ sở hữu sơ hở trong việc quản lý tài sản bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an chung, cần phải xử lý nghiêm minh.

Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử nhiều lần nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân, mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó khi xem xét về hình phạt cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi xem xét về hình phạt cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt vì bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về phần dân sự:

Theo báo cáo của bị hại, anh Nguyễn Văn H đã nhận lại tài sản bị cáo chiếm đoạt và không yêu cầu đề nghị gì về phần dân sự. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Xuân N tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 10.000.000đ. Do đó công nhận phần dân sự giữa bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã giải quyết xong.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc H phạm tội : “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Ngọc H 24 (hai tư) tháng tù. Thời hạnh chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/10/2019.

Về phần dân sự: Công nhận phần dân sự giữa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã giải quyết xong.

Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Cỡ chữ