- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Anh H phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Anh H phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 55 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2020/HS-ST Ngày: 07/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân
Bà Thạch Thị Lan Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn L – là Thư ký Tòa án nhân dân Hện Lâm Hà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Lâm Anh H; sinh năm 2000; tại: Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn T, xã T, Hện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn N và bà Võ Thị Đ;
Tiền án: + Bản án số 68/2018/HSST ngày 05/9/2018 của Tòa án nhân dân Hện Đức Trọng xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Trộm cắp tài sản” và 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành là 12 tháng cải tạo không giam giữ; + Bản án số 76/2019/HSST ngày 12/6/2019 của Tòa án nhân dân Hện Đức Trọng xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với 07 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ chưa chấp hành thành 02 tháng 15 ngày tù buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 11 tháng 15 ngày tù; tiền sự: không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2020. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an Hện Lâm Hà. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Chị Cao Hà Khánh L, sinh ngày: 02/3/2004.
Nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn Đ, Hện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho chị Cao Hà Khánh L: Bà Hà Thị M, sinh năm: 1979.
Nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn Đ, Hện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
+ Chị Phạm Quỳnh T, sinh ngày 23/10/2005.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, Hện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho chị Phạm Quỳnh T: Bà Trần Thị Trúc M, sinh năm: 1981.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, Hện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
+ Chị Vương Thị L, sinh năm: 2000.
Nơi cư trú: Thôn H, xã T, Hện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người có quyền L1, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Hà Thị M, sinh năm: 1979.
Nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn Đ, Hện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
+ Bà Trần Thị Trúc M, sinh năm: 1981.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, Hện L, tỉnh Lâm Đồng.Có mặt.
+ Ông Lâm Văn N, sinh năm: 1971.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Chị Lò Thị Tuyết N, sinh ngày: 21/02/2006.
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, Hện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 08/4/2020, Lâm Anh H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu xe Yamaha Jupiter biển kiểm soát 49E1 – 710.21 (xe đã tháo biển kiểm soát và đổi vỏ màu vàng kiểu dáng giống xe Exciter) từ nhà qua khu vực xã T, Hện L, tỉnh Lâm Đồng nhằm mục đích tìm kiếm các hộ gia đình có người lớn đi làm hết chỉ có trẻ em trông nhà để giả vờ hỏi thăm sau đó lừa đảo hoặc trộm cắp tài sản bán để có tiền tiêu xài. Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày H đến nhà chị Nguyễn Thị G, H điều khiển xe vào sân và gọi “Cô ơi” thì cháu Lò Thị Tuyết N là con gái chị Giang đi ra, H hỏi “Ba mẹ có nhà không”, cháu N trả lời “ba mẹ sang ngoại rồi”, H nói “cho chú số điện thoại của ba mẹ” nhưng N trả lời không nhớ. Qua nói chuyện thì H biết cháu N ở nhà một mình nên H xuống xe tự ý đi vào nhà, H đi qua phòng khách, qua phòng ngủ đầu tiên, đến phòng ngủ thứ hai thì phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10 vỏ màu xanh, màn hình đen của chị Giang đang sạc pin trên giường ngủ. H tự ý cầm điện thoại lên và rút sạc ra thì thấy điện thoại khóa màn hình bằng mật khẩu nên H hỏi cháu N nói không biết, H nói với cháu N cho chú số điện thoại của ba thì N nói không nhớ. Lúc này H liền nói dối với cháu N “sáng chú gặp mẹ cháu rồi, mẹ cháu nói đưa điện thoại cho chú để đi chạy chương trình”, H nói vậy với mục đích lừa cháu N chiếm đoạt chiếc điện thoại này để bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này cháu N lấy một điện thoại khác gần đó nói “để cháu gọi cho mẹ”. H thấy cháu N gọi thì sợ bị lộ nên nói đưa điện thoại cho H nghe, cháu N đưa điện thoại cho H thì H tắt cuộc gọi và đưa điện thoại lên tai giả vờ như đang nghe điện thoại đồng thời nói “ Chị hả, sáng em gặp chị ngoài chợ đó, giờ em qua lấy điện thoại này”. Do có nghi ngờ H nên cháu N nói “để cháu qua nhà chú nhờ chú tháo Sim ra đã”, H nghĩ cháu N đã mắc lừa nên đồng ý và đưa lại điện thoại cho cháu N rồi ra sân ngồi chờ ở xe. Cháu N cầm điện thoại sang nhà hàng xóm nhờ báo Công an xã đồng thời gọi cho mẹ là chị Giang về. Một lúc sau thì Công an xã Tân Văn đưa H về làm việc. Quá trình làm việc thì H khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Ngày 20/7/2020, Hội đồng định giá tài tài sản trong tố tụng hình sự Hện Lâm Hà kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M10 vỏ màu xanh có giá trị là 2.650.000 đồng.
Ngoài ra trong quá trình điều tra H còn khai nhận bản thân là đối tượng không có nghề nghiệp mới ra tù đầu năm 2020, để có tiền tiêu xài H thường điều khiển xe mô tô nhãn hiệu xe Yamaha Jupiter biển kiểm soát 49E1 – 710.21 (xe được tháo biển kiểm soát và đổi vỏ màu vàng kiểu dáng giống xe Exciter) tìm kiếm các hộ gia đình mà người lớn đi làm hết chỉ có trẻ em trông nhà để giả vờ hỏi thăm sau đó lừa đảo hoặc trộm cắp tài sản bán để có tiền tiêu xài, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 31/01/2020, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49E1 – 710.21 đến nhà chị Hà Thị M thì gặp cháu Cao Hà Khánh L là con của chị Mùi ở nhà, H giả vờ hỏi bố mẹ cháu L đâu thì cháu L nói không có nhà. Biết không có người lớn ở nhà nên H tự đi vào phòng khách và nói cháu L “ghi cho chú số điện thoại của ba mẹ” thì cháu L đi vào phòng ngủ thứ hai lấy giấy để ghi số điện thoại cho H, còn H đi vào phòng ngủ thứ nhất thấy 01 điện thoại di động Sam Sung J2 để trên giường ngủ, H lấy điện thoại cất vào túi áo khoác rồi nhanh chóng điều khiển xe đi về, sau đó mang bán chiếc điện thoại này ở cửa hàng điện thoại Phát Mobie của anh Lê Quang Vũ được 600.000đồng, số tiền này H tiêu xài hết.
Lần thứ hai: Vào ngày 05/3/2020, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49E1 – 710.21 đến nhà bà Trần Thị Trúc M thì gặp cháu Phạm Quỳnh T ở nhà một mình. H cũng giả vờ hỏi ba mẹ có nhà không, khi biết cháu Tiên ở nhà một mình thì H cũng nói “ghi cho chú số điện thoại của ba mẹ”. Cháu Tiên đi vào nhà thì Hũy cũng đi theo vào, H đi qua phòng khách, phòng ngủ và đến gian phòng gần bếp, H thấy 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A10S để trên bàn học. H tự ý cầm điện thoại thì cháu Tiên có hỏi “sao lại lấy điện thoại”. H sợ bị phát hiện nên nói dối “để chú gọi cho mẹ”, H giả vờ bấm gọi và nói vào điện thoại “sáng em có gặp chị đó, giờ em ghé lấy điện thoại để chạy chương trình mai mốt xong em đưa lại”. Cháu Tiên nghe vậy nên tin tưởng và đồng ý để H cầm điện thoại đi. Sau đó H đem điện thoại trên đến bán cho cửa hàng điện thoại Tèo Mobile của anh Thái Hoài Sum được 700.000đồng. Số tiền này H cũng tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ ba: Vào ngày 23/3/2020, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49E1 – 710.21 đến nhà chị Vương Thị L giả vờ làm người quen của chồng chị L1, chị L1 cho biết chồng đi xây ngoài trường học thì H kiếm cớ ngồi chơi lại. Khi thấy chị L1 đi ra sau nhà giặt đồ, thì H đi đến chỗ tủ tivi, H thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung J7 và 01 chiếc ví da để cạnh tivi. H lấy điện thoại và ví da cất vào túi áo khoác và lên xe tẩu thoát. Trên đường chạy về nhà thì H dừng lại kiểm tra trong ví da có 70.000đồng, H lấy tiền và vứt chiếc ví da vào lề đường. Chiếc điện thoại trên H đem bán cho cửa hàng điện thoại Tèo Mobile được 4.552.000đồng.
Ngày 09/4/2020, Hội đồng định giá tài tài sản trong tố hình sự Hện Lâm Hà kết luận 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung J2 giá trị 1.672.000đồng, 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A10S có giá trị 3.032.000đồng, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Sam Sung J7 có giá trị 4.552.000đồng. Tổng giá trị tài sản là 9.256.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 03/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Hện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Hện Lâm Hà để xét xử bị can Lâm Anh H về tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lâm Anh H về tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Anh H từ 12 đến 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 21 tháng đến 27 tháng tù. Về xử lý vật chứng: cơ quan cảnh sát điều tra Công an Hện Lâm Hà đã trả lại cho ông Lâm Văn N 01 xe mô tô nhãn hiệu xe Yamaha Jupiter biển kiểm soát 49E1 – 710.21 (xe đã đổi vỏ màu vàng kiểu dáng giống xe Exciter) và 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lâm Văn N. Tại phiên tòa ông Niên không có ý kiến và yêu cầu gì nên không đặt ra để xem xét, giải quyết. Về trách Nệm dân sự: gia đình bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho bị hại và người có quyền L1, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người này đã có đơn bãi nại nên không đặt ra để xem xét, giải quyết. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Hện Lâm Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Hện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Lâm Anh H đã khai nhận: vào khoảng thời gian từ ngày 31/01/2020 đến ngày 08/4/2020, bị cáo đã liên tiếp thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể bị cáo có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị là 3.032.000đồng. Ngoài ra bị cáo đã 02 lần lén lút trộm cắp tài sản người khác với tổng giá trị tài sản là 6.294.000đồng và khi bị cáo đang thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì bị phát hiện. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp và lừa đảo chiếm đoạt theo định giá của cơ quan cHên môn có giá trị là 9.256.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền L1, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, tang vật thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lâm Anh H phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý có sự chuẩn bị từ trước và thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây nên sự nghi ngờ mất đoàn kết trong nội bộ quần chúng nhân dân, đồng thời tác động xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Đối tượng bị cáo hướng đến để chiếm đoạt tài sản là những hộ gia đình có người lớn đi vắng chỉ còn trẻ em ở nhà trông nhà hoặc nhà chỉ có phụ nữ ở nhà. Bị cáo L1 dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản cũng như dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách Nệm hình sự tương ứng với hành vi mà mình đã thực hiện.
Xét nhân thân bị cáo: bị cáo có nhân thân không tốt, vào năm 2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân Hện Đức Trọng xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đang trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ bị cáo tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản nên vào năm 2019 Tòa án nhân dân Hện Đức Trọng xử phạt 11 tháng 15 ngày tù. Sau khi chấp hành án xong được tái hòa nhập cộng đồng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân để tu dưỡng trở thành người lương thiện, sống biết tuân thủ pháp luật mà tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 05/01/2020 nhưng đến ngày 31/01/2020 bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội có cùng tính chất, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm và phạm tội Nều lần. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện cũng như răn đe phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người có quyền L1, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và được bị hại cũng như người có quyền L1, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn bãi nại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách Nệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Lâm Anh H bị xét xử cùng một lần hai tội nên áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với từng tội đang xét xử và tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội đối với bị cáo.
Về trách Nệm dân sự: đối với chiếc điện thoại di động hiệu Sam sung J2 bị cáo trộm cắp của chị Coa Hà Khánh L theo định giá của cơ quan cHên môn có giá trị là 1.672.000đồng, trong quá trình điều tra chị L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.300.000đồng; chiếc điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy 10S của bà Trần Thị Trúc M đưa cho chị Phạm Quỳnh T sử dụng đã bị bị cáo dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt theo định giá của cơ quan cHên môn có giá trị là 3.032.000đồng, trong quá trình điều tra bà My yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 4.000.000đồng; chiếc điện thoại di động hiệu Sam sung J7 bị cáo trộm cắp của chị Vương Thị L theo định giá của cơ quan cHên môn có giá trị là 4.552.000đồng, trong quá trình điều tra chị L1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000đồng. Hiện nay, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người có quyền L1, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, chị L, bà My và chị L1 không có ý kiến và yêu cầu gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Đối với anh Lê Quang Vũ và anh Thái Hoài Sum là người mua điện thoại của bị cáo, anh Vũ và anh Sum đều không biết tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với anh Vũ và anh Sum về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Xử lý vật chứng: trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Hện Lâm Hà tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu xe Yamaha Jupiter biển kiểm soát 49E1 – 710.21 (xe đã đổi vỏ màu vàng kiểu dáng giống xe Exciter), 01 giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lâm Văn N. Cơ quan điều tra xác định chiếc xe mô tô này là của ông Lâm Văn N, khi bị cáo sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội ông Niên không biết nên ngày 06/05/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hện Lâm Hà đã chiếc xe mô tô trên cho ông Niên. Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Hện Lâm Hà trả lại tài sản cho ông Niên là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, ông Niên không có ý kiến và yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lâm Anh H phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lâm Anh H 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” và 09 (Chín) tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 21 (Hai mươi môt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/4/2020.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền L1, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/9/2020), riêng bị hại và người có quyền L1, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKS, CA Hện Lâm Hà; - Thi hành án Hện Lâm Hà; - Cơ quan THAHS Công an Hện Lâm Hà; - Bị cáo; Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy |