- Tranh chấp gì? án hình sự — "Th gay thuong tich D - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hà Minh Th.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2020/HS-PT Ngày 26 - 02 -2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Minh.
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Thảo.
Bà Nguyễn Thị Lệ Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Quân – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2020/TLPT-HS, ngày 03 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Hà Minh Th do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 543/2019/HS-ST, ngày 21 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hà Minh Th, sinh ngày 07 tháng 10 năm 1982, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: khu phố 10, phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Công H, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1954; Bị cáo có vợ tên Trần Thị Thanh T, sinh năm 1982 (đã ly hôn), có 02 con sinh năm 2007 và sinh năm 2010; Sống chung với chị Đặng Thị Thùy D, sinh được 02 con năm 2016 và năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh số 184 ngày 05/8/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. (Có mặt).
Bị hại: Chị Đặng Thị Thùy D, sinh năm 1981.
Địa chỉ: khu phố 1, phường Tân Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 15/02/2019, Th về phòng trọ tại địa chỉ khu phố 12, phường An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thì gặp chị D đang ngồi cho con bú. Do nghi ngờ chị D nhờ người tên H đánh bạn gái của Th nên Th chửi chị D dẫn đến 2 bên xảy ra cãi vã. Th đi vào khu vực bếp lấy 01 chảo bằng kim loại đường kính khoảng 18cm và tay cầm dài khoảng 30cm đánh 4 đến 5 cái vào người chị D. Bị Th đánh chị D đưa tay phải lên đỡ thì bị Th đánh 01 cái trúng vào tay phải của chị D. Lúc này, thấy chị D kêu đau nên Th dừng lại và vứt chảo ở phòng trọ rồi bỏ đi. Sau đó chị D đến Bệnh viện 7B điều trị.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0232/GĐPY/2018 ngày 20/3/2019 của Giám định viên Trung tâm pháp y Đồng Nai kết luận chị Đặng Thị Thùy D bị thương tích như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Tổn thương gãy 1/3 giữa xương trụ phải hiện can xấu, trục lệch (Áp dụng Chương 8, điều II, mục 10.2). Tỷ lệ: 21%.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 21% (Hai mươi mốt phần trăm).
3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật tày.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 543/2019/HS-ST, ngày 21 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà Minh Th phaïm toäi “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xöû phaït bị cáo Nguyễn Hà Minh Th 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành bản án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 42 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 468; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho Đặng Thị Thùy D số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo bản án.
Ngày 05/12/2019, bị cáo Nguyễn Hà Minh Th có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ tình tiết giảm nhẹ mới do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 15/02/2019, tại phòng trọ số khu phố 12, phường An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo đã có hành vi vô cớ dùng chảo bằng kim loại có đường kính khoảng 18cm và tay cầm dài khoảng 30cm đánh vào tay phải của chị D gây thương tích với tỷ lệ thương tật 21%. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Giữa bị cáo và bị hại còn có mối quan hệ tình cảm cùng có con chung nhưng chỉ vì những mâu thuẫn trong sinh hoạt cuộc sống mà bị cáo đã dùng một chảo bằng kim loại đường kính khoảng 18cm và tay cầm dài khoảng 30cm đánh gây thương tích cho bị hại.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được các chứng cứ tài liệu mới để cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại là có căn cứ.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo thực hiện nên không có căn cứ xem xét chấp nhận nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết lại.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Hà Minh Th. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 543/2019/HS-ST, ngày 21 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xöû phaït bị cáo Nguyễn Hà Minh Th 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND TP.Biên Hòa; - VKSND Tp.Biên Hòa; - Công an Tp.Biên Hòa; - Chi cục THADS Tp.Biên Hòa; - Phòng HSNV-Công an tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Hoàng Thị Thu Minh |