- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê Y V và chị Nguyễn Thị V1.
- Căn cứ chính? Thông tư số 236/2016/TT-BTC Quy định về giá dịch vụ thẩm địn…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH TỈNH TH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản số: 60/2020/HNGĐ - ST Ngày: 24/8/2020 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH - TỈNH TH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thanh Vân
2. Ông Nguyễn Ngọc Đức
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ Xuân – Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 8 năm 2020, tại Hội trường Toà án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 104/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Lê Y V, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số nhà X, tổ Y, phường Đ, thành phố TH, tỉnh TH;
* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị V1, sinh năm 1989
Nơi ĐKNKTT: Số nhà X, tổ Y, phường Đ, thành phố TH, tỉnh TH; Chỗ ở hiện nay: Tổ Z, phường Đ, thành phố TH, tỉnh TH
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
* Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn là anh Lê Y V trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị V1 kết hôn năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố TH. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn, sau đó thường xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị V và mẹ anh V thường xuyên va chạm xích mích dẫn đến vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân khoảng 20 tháng, không ai quan tâm đến ai. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, xin ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Lê H, sinh ngày 21/12/2009 và Lê Quang M, sinh ngày 25/11/2018. Khi ly hôn anh V có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh đề nghị chị V1 cấp dưỡng nuôi con chung số tiền là 1.000.000đ/tháng/con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh V xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là chị Nguyễn Thị V1 trình bày: Chị và anh Lê Y V kết hôn năm 2008, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Nguyên nhân ly hôn là do sau khi cưới xong vợ chồng về chung sống cùng bố mẹ anh V dẫn đến mẹ chồng, nàng dâu xảy ra va chạm, cuộc sống luôn căng thẳng, chị đề nghị vợ chồng ra ở riêng nhưng anh V không nhất trí nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Chị đã phải chuyển ra ngoài sống từ cuối năm 2019 cho đến nay. Chị V1 cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh V xin ly hôn chị nhất trí.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Lê H, sinh ngày 21/12/2009 và Lê Quang M, sinh ngày 25/11/2018. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị V1 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần để các đương sự cùng thỏa thuận giải quyết vụ án. Tuy nhiên anh V và chị V1 không tự thỏa thuận được toàn bộ nội dung vụ án nên vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử: đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc dân sự như xác định thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp; Chấp hành đúng về thời hạn chuẩn bị xét xử; Tại phiên tòa đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71,72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê Y V và chị Nguyễn Thị V1; Về con chung: Giao cho anh Lê Y V trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lê H, sinh ngày 21/12/2009 và giao cho chị V1 trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Quang M, sinh ngày 25/11/2018 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh V và chị V1 được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do mỗi người trực tiếp nuôi một con nên đề nghị Hội đồng xét xử không buộc các bên cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: đề nghị không giải quyết; Về án phí anh V phải chịu án phí sơ thẩm và anh V, chị V1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo quy định tại điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Lê Y V và chị Nguyễn Thị V1 đều có nơi cư trú tại thành phố TH, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố TH theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Y V và chị Nguyễn Thị V1 kết hôn năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố TH nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Lý do anh V xin ly hôn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung cuộc sống áp lực và bế tắc, dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị V1 cũng xác định vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung của hai vợ chồng không hạnh phúc, anh V xin ly hôn chị cũng nhất trí. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Y V và chị Nguyễn Thị V1.
. Về con chung: Anh V và chị V1 có hai con chung Lê H, sinh ngày 21/12/2009 và Lê Quang M, sinh ngày 25/11/2018. Nếu ly hôn thì cả hai đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử thấy, con chung Lê Quang M, sinh ngày 25/11/2018 còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ, chị V1 có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Còn cháu Lê H, sinh ngày 21/12/2009 có nguyện vọng ở với bố để ổn định cuộc sống và điều kiện học tập của cháu. Hội đồng xét xử thấy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần giao con Lê Quang M cho chị V1 trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê H cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với thực tế, phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình.
Điều 81. Luật Hôn nhân gia đình năm 2014:
“ .....
2. Vợ chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh V đề nghị chị V1 cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/ tháng/con, còn chị V đề nghị giải quyết mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy: theo quy định tại khoản 2, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình: “Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Xét về thực tế cần giao cho anh V và chị V1 mỗi người trực tiếp nuôi một con nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, phù hợp với thu nhập thực tế của cả anh V và chị V1, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho cả hai bên là phù hợp.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh V và chị V1 xác định không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh V phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng: Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 236/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê Y V và chị Nguyễn Thị V1.
2. Về con chung: Anh Lê Y V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê H, sinh ngày 21/12/2009, chị Nguyễn Thị V1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Quang M, sinh ngày 25/11/2018 đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh V và chị V1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh V và chị V1.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Anh Lê Y V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 00027277 ngày 20/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH.
Án xử công khai, báo cho các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TH; - VKSND tỉnh TH; - VKSND thành phố TH; - THA dân sự thành phố TH; - Các đương sự; - UBND phường Đ; - Lưu hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH TỈNH TH BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán, chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Thanh Trúc Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thanh Vân thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 104/2020/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn”, giữa: * Nguyên đơn: Anh Lê Y V, sinh năm 1980 Địa chỉ: Số nhà X, tổ Y, phường Đ, thành phố TH, tỉnh TH; * Bị đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1989 Tổ 03, phường Đ, thành phố TH, tỉnh TH tại phiên tòa, các quy định của pháp luật 1. Điều luật áp dụng: dụng: Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 236/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Kết quả biểu quyết: nhất trí 3/3 2. Tuyên xử: Nguyễn Thị V. Kết quả biểu quyết: nhất trí 3/3 dục con chung Lê H, sinh ngày 21/12/2009, chị Nguyễn Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Quang M, sinh ngày 25/11/2018 đến nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. V và chị V. Kết quả biểu quyết: nhất trí 3/3 2.3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Kết quả biểu quyết: nhất trí 3/3 hôn sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 00027277 ngày 20/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH. Kết quả biểu quyết: nhất trí 3/3 án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Kết quả biểu quyết: nhất trí 3/3 Nghị án kết thúc cùng ngày. nghe và ký tên dưới đây. THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trƣơng Thị Thanh Trúc CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc TH, ngày 24 tháng 8 năm 2020 2. Ông Nguyễn Ngọc Đức Vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 24/8/2020 tại Phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ Nơi ĐKNKTT: Số nhà X, tổ Y, phường Đ, thành phố TH, tỉnh TH; Chỗ ở hiện nay: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU: Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp 2.1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Lê Y V và chị 2.2. Về con chung: Anh Lê Y V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo khi các con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh V và chị V có quyền, Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh 2.4. Án phí: Anh Lê Y V phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly 2.5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, các đương sự có quyền kháng cáo bản Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Thị Thanh Trúc |