vanban.org

Bản án 60/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” với anh Võ Văn T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Võ Văn T. Về con chung: Giao cháu Võ Văn K, sinh ngày 14/5/2003, Võ Văn H, sinh ngày 26/7/2006 và Võ Quốc H, sinh ngày 21/9/2016 cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời anh Võ Văn T không phải cấp dưỡng nuôi co… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị B yêu cầu ly hôn với anh T vì mâu thuẫn gia đình, có con chung, không có tài sản chung, nợ chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” với anh Võ Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 05/8/2020
V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi
con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài.

Ông Đặng Quang Hoạch.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 274/2020/TLST-HNGĐ ngày 05/5/2020 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50a/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/7/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 201/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20/7/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm: 1977.

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Võ Văn T, sinh năm: 1979.

Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

(các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Văn T tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã B và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 89 ngày 20/9/2007.

Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do anh T không quan tâm, chỉ lo ăn chơi và có bỏ nhà đi tới 03 tháng mới về nhà, mọi việc trong nhà đều do chị giải quyết lo lắng, gia đình đã nhiều lần hòa giải, khuyên bảo nhưng anh T vẫn không thay đổi, vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 9/2019 cho đến nay nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có ba con chung là Võ Văn K, sinh ngày 14/5/2003, Võ Văn H, sinh ngày 26/7/2006 và Võ Quốc H, sinh ngày 21/9/2016. Ly hôn chị yêu cầu được nuôi 03 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì bận công việc gia đình nên chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

- Bị đơn anh Võ Văn T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị B là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho chị B được ly hôn với anh T. Về con chung: Giao con chung cho chị B nuôi dưỡng, tạm thời anh T không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung chị B trình bày không có, nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: Chị B phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Nguyễn Thị B nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn T, sinh năm: 1979, địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Về sự vắng mặt của đương sự: Chị B có đơn xin vắng mặt; anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu khởi kiện:

3.1 - Về quan hệ hôn nhân:

Chị B và anh T tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Trảng Bom và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 89 ngày 20/9/2007 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị B yêu cầu ly hôn với anh T vì chị nhận thấy mâu thuẫn không thể hàn gắn, hôn nhân không hạnh phúc và đã ly thân từ tháng 9/2019. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập anh T để làm việc nhưng anh T vắng mặt không có lý do, thể hiện việc anh không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn giữa chị B và anh T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị B yêu cầu ly hôn với anh T là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2 - Về con chung:

Anh chị có ba con chung là Võ Văn K, sinh ngày 14/5/2003, Võ Văn H, sinh ngày 26/7/2006 và Võ Quốc H, sinh ngày 21/9/2016. Ly hôn chị B có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của chị B là có cơ sở chấp nhận, vì cháu K, cháu H có nguyện vọng được sống cùng mẹ, đồng thời chị B hiện nay có công việc ổn định (bán cá ở chợ) với thu nhập trên 10.000.000 đồng/tháng nên có điều kiện về kinh tế để nuôi con.

3.3 - Về tài sản chung, nợ chung: Chị B trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 220, 227, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010); Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” với anh Võ Văn T.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Võ Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Võ Văn K, sinh ngày 14/5/2003, Võ Văn H, sinh ngày 26/7/2006 và Võ Quốc H, sinh ngày 21/9/2016 cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời anh Võ Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Võ Văn T được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007131 ngày 28/4/2020tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Nguyễn Thị B đã nộp đủ án phí.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ