- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Điệp Thị M yêu cầu ly hôn với anh Đặng Văn T"
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2020/HNGĐ-ST Ngày 09 - 3 - 2020 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Từ Thanh Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Loan.
Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng.
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 09 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 92/2020/TLST-HNGĐ ngày 10/02/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/3/2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Điệp Thị M, sinh năm 1979.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn T (Phương), sinh năm 1975.
Cùng địa chỉ: Ấp 4, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 30/12/2019 và lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:
Vào năm 2001 chị M và anh T được 02 bên gia đình tổ chức đám cưới với nhau, hôn nhân tự nguyện, nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời kỳ hôn nhân có 02 con chung tên Đặng Văn D, sinh 09/5//2003 và Đặng Như Q, sinh 10/02/2005.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Trong cuộc sống hôn nhân vợ bất đồng quan điểm sống và thường xuyên cự cải với nhau, nên dẫn đến đời sống hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng và không còn hạnh phúc, đời sống chung hiện nay không thể kéo dài, vợ chồng không còn sống chung với nhau hơn 05 tháng, nhưng không có thiện chí hàn gắn trở lại.
Chị M yêu cầu ly hôn với anh T; về con chung có nguyện vọng sống với ai người đó nuôi dạy, không yêu đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết. Đồng thời đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Lời trình bày của bị đơn có tại hồ sơ, thể hiện: Anh T thống nhất với lời trình bày của chị M về hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và nợ chung, cũng như mâu thuẫn là đúng sự thật.
Anh T đồng ý ly hôn với chị M; về con chung có nguyện vọng sống với ai người đó nuôi dạy, không yêu đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết. Đồng thời đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Lời trình bày của cháu Đặng Văn D và cháu Đặng Như Q tại biên bản ghi nhận ý kiến con chưa thành niên ngày 03/3/2020, thể hiện: Cháu D có nguyện vọng được sống với anh T, chái Q có nguyện vọng được sống với chị M.
Từ những nội dung vụ án thể hiện;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị M xác định mối quan hệ hôn nhân giữa chị và anh T mâu thuẫn trầm trọng, nên thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là đúng theo quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị M khởi kiện anh T về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con và anh T có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét về thủ tục: Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Xét về mối quan hệ hôn nhân và yêu cầu ly hôn: Chị M và anh T xác định trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không có đăng ký kết hôn. Hội đồng xét xử xét thấy chị M và anh T tự nguyện sống chung với nhau và đủ điều kiện kết hôn thì phải đăng ký theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về hộ tịch, nhưng chị M và anh T không đăng ký kết hôn, nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, do đó căn cứ Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 không công nhận chị M và anh T là vợ chồng là phù hợp.
Xét về con chung:
- Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy các con chung tên Đặng Văn D, Đặng Như Q đã từ đủ 07 tuổi trở lên nên cần xem xét theo nguyện vọng của các cháu được sống với ai, qua ghi nhận ý kiến các cháu thì cháu D có nguyện vọng sống với anh T, cháu Q có nguyện vọng sống với chị M, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu D cho anh T nuôi dạy, giao cháu Q cho chị M nuôi dạy là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị M và anh T có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở chị M và anh T thực hiện quyền này và chị M, anh T phải tôn trọng quyền của con chung được sống với chị M, anh T là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung: Chị M, anh T xác định đủ điều kiện nuôi dạy con chung đến tuổi trưởng thành, nên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị M và anh T, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét về tài sản chung và nợ chung: Chị M và anh T cho rằng tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chị M đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 3 thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về nội dung:
- Về hôn nhân: Không công nhận chị Điệp Thị M và anh Đặng Văn T (Ph) là vợ chồng.
- Về con chung: Giao cho chị M trực tiếp nuôi dạy con chung tên Đặng Như Q sinh 10/02/2005, giao cho anh T trực tiếp nuôi dạy con chung tên Đặng Văn D, sinh 09/5/2003. Chị M, anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung, không ai có quyền ngăn cản chị M và anh T thực hiện quyền này và chị M, anh T phải tôn trọng quyền của con chung được sống với chị M và anh T.
Chị M có trách nhiệm giao cháu D cho anh T nuôi dạy. Anh T có trách nhiệm giao cháu Q cho chị M nuôi dạy.
2. Về án phí sơ thẩm:
Chị M phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, chị M đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai số: 0003224 ngày 10/02/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ.
3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Trần Văn Thời; - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời; - UBND xã K; - Đương sự; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Từ Thanh Nhung |