vanban.org

Bản án 60/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Văn M. Anh Nguyễn Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị A.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung, công sức đóng góp, các khoản vay hoặc cho vay tài sản của vợ chồng: Anh M, chị A không yêu cầu đề nghị giải quyết.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Văn M. Anh Nguyễn Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QO
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2020/HNGĐ-ST
Ngày 13/5/2020
V/v “tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QO, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Trịnh Đăng Huấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hoa và Ông Nguyễn Văn Viên

- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Hà - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện QO tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện QO, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 02/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2020, về việc tranh chấp ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXX-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự: * Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1981. Có mặt.

Đăng ký HKTT: Thôn NS, thị trấn QO, huyện QO, TP. Hà Nội. * Bị đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1984. Vắng mặt không lý do.

Đăng ký HKTT: Thôn NS, thị trấn QO, huyện QO, TP. Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn M và quá trình tố tụng, trình bày như sau:

Anh Nguyễn Văn M và chị Nguyễn Thị A có thời gian tìm hiểu nhau và tự nguyện kết hôn, có đăng ký ngày 13.7.2017 tại UBND thị trấn QO, huyện QO, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc. anh M chỉ chung sống với chị A thời khoảng một năm vào đầu năm 2018 sau đó vợ chồng sống ly thân đến nay. Theo anh M thì nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính cách, quan điểm sống bất đồng giữa hai người không hợp nhau, thường xuyên xảy ra việc cãi chửi, nghi ngờ trong cuộc sống hàng ngày.

Yêu cầu khởi kiện của anh M: Anh M xác định tình cảm hạnh phúc vợ chồng thực sự không còn, không thể về đoàn tụ chung sống lâu dài tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng với chị A, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị A, để ổn định cuộc sống cho các bên.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, công sức đóng góp, các khoản vay hoặc cho vay tài sản của vợ chồng: Không yêu cầu đề nghị giải quyết.

Chị Nguyễn Thị A thừa nhận về việc kết hôn giữa vợ chồng chị hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thực tế cuộc sống chung vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn gay gắt và vợ chồng đã phải sống ly thân, tình cảm hạnh phúc không còn tồn tại như anh M trình bày là đúng. Tuy nhiên chị không đồng ý ly hôn với anh M vì chị ngại mang tiếng là người phụ nữ đã có hai đời chồng, làm ảnh hưởng xấu đến danh dự gia đình bố mẹ đẻ của chị.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, công sức đóng góp, các khoản vay hoặc cho vay tài sản của vợ chồng: Không yêu cầu đề nghị giải quyết.

Theo bà Tạ Thị Y - Chi hội trưởng hội phụ nữ thôn NS, thị trấn QO cung cấp: Cả anh M và chị A kết hôn với nhau trong hoàn cảnh kết hôn lần hai, cuộc sống chung vợ chồng mỗi người mỗi nơi, không con cái không tài sản chung.

Các tài liệu, chứng cứ của vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn; Giấy chứng A thư nhân dân của anh M, chị A; Sổ hộ khẩu.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về việc thực hiện tố tụng của Toà án và các đương sự: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dan sự. Tại phiên toà hôm nay Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục của phiên toà sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị A chỉ tham giai đoạn ban đầu khi công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng khi Tòa án mở phiên tòa xét xử thì đều vắng mặt không lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án Tòa án đã phải hoãn phiên tòa và tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.

Về việc giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn M và chị Nguyễn Thị A kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng khoảng một năm sau khi kết hôn không hạnh phúc do không có tiếng nói chung. Nay anh M xác định tình cảm hạnh phúc vợ chồng thực sự không còn, không còn quý trọng quan tâm thương yêu lẫn nhau, không có quan hệ tình cảm vợ chồng gì, vợ chồng đã sống ly thân thời gian đã lâu, khó có thể đoàn tụ chung sống lâu dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh M làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị A để ổn định cuộc sống cho các bên. Còn chị A cho rằng vẫn còn khả năng đoàn tụ, nên chị không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, thực tế mối quan hệ vợ chồng không cải thiện được trong thời gian hoà giải, không thể về đoàn tụ chung sống lâu dài, mục đích ly hôn không đạt được, nên yêu cầu ly hôn của anh M là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh M là có căn cứ pháp luật.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, công sức đóng góp, các khoản vay hoặc cho vay tài sản của vợ chồng: Anh M, chị A không yêu cầu đề nghị giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đó được xem xét tại phiờn toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]- Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị A cư trú tại thôn NS, thị trấn QO, huyện QO, thành phố Hà Nội, nên anh M khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện QO giải quyết ly hôn là đúng thẩm quyền theo Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chị A chỉ tham gia tố tụng giải quyết tại Tòa án giai đoan ban đầu công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng khi Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án, thì đều vắng mặt không lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết. Tòa án đã phải hoãn phiên tòa và tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật giải quyết vụ án theo Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự.

[2]- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn M và chị Nguyễn Thị A kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống không hạnh phúc, tình cảm hạnh phúc thực tế không còn, đời sống chung không còn tồn tại, không thể đoàn tụ chung sống lâu dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xét chấp nhận yêu cầu của anh M, giải quyết anh M được ly hôn với chị A phù hợp với điều Điều 51, Điều 56 và Điều 57 luật hôn nhân và gia đình.

[3]- Về con chung: Không có.

[4]- Về tài sản chung, công sức đóng góp, các khoản vay hoặc cho vay tài sản của vợ chồng: Anh M, chị A không yêu cầu đề nghị giải quyết.

[5]- Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6]- Về quyền kháng cáo: Anh M, chị A được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Văn M. Anh Nguyễn Văn M được ly hôn chị Nguyễn Thị A.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, công sức đóng góp, các khoản vay hoặc cho vay tài sản của vợ chồng: Anh M, chị A không yêu cầu đề nghị giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Được trừ đủ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng đã nộp, theo biên lai số AA/2016/0010976 ngày 02/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện QO, thành phố Hà Nội.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- TAND TP Hà Nội;

- THADS huyện QO;

- VKSND huyện QO;

- Các đương sự;

- UBND thị trấn QO;

- Lưu HS, VP.

Trịnh Đăng Huấn

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Đăng Huấn Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án nhân dân TP Hà Nội;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- THADS huyện QO;

- VKSND huyện QO;

- Các đương sự;

- UBND thị trấn QO;

- Lưu HS, VP.

Trịnh Đăng Huấn

Cỏc Hội thẩm nhõn dõn

Thẩm phỏn - Chủ tọa phiờn tũa

Cỡ chữ