vanban.org

Bản án 60/2020/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị K. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Mai Thị K được ly hôn với ông Trần Văn Hòa. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CR
THÀNH PHỐ C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2020/HN-ST
Ngày: 30/9/2020
V/v: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HXÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CR

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Trúc.

- Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Sang.

- Ông Nguyễn Văn Mến.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh Nhung – Cán bộ Tòa án nhân dân quận CR.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận CR tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Quốc – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận CR, thành phố C xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 201/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2020 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 149/2020/QĐST-HN ngày 08 tháng 9 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 90/2020/QĐST – HN ngày 19/9/2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Mai Thị K, sinh năm 1988

HKTT: Ấp Thạnh Phước, xã Phước Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

* Bị đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1983

HKTT: KV Yên Thuận, P. Lê Bình, Q. CR, Tp. C.

(Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 19 tháng 5 năm 2020 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Mai Thị K trình bày: Bà và ông H cưới nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Lê Bình, quận CR vào ngày 18/11/2008. Quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẩn, cãi vả không thể khắc phục nên từ năm 2017 vợ chồng ly thân cho đến nay. Do không thể tiếp tục chung sống nên bà xin được ly hôn. Do hiện bà đi làm tại Bình Dương, điều kiện đi lại khó khăn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt mình.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Mai Lan V (nữ), sinh 30/11/2010. Khi ly hôn bà để con cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng vì 02 năm nay cháu sống cùng ông H. Bà sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

* Đối với bị đơn ông Trần Văn H: Quá trình giải quyết vụ kiện Tòa án có triệu tập ông Hòa, tuy nhiên ông luôn vắng mặt. Sau khi tiến hành đầy đủ các thủ tục theo quy định Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ kiện tòa án thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

- Về nội dung: Bà K và ông H có đăng ký kết hôn theo quy định. Bà K yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn. Ông Hmặc dù được tòa án triệu tập nhiều lần nhưng ông luôn vắng mặt cho thấy ông không tha thiết hàn gắn tình cảm. Do vậy đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn, con chung của bà K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định.

Về quan hệ pháp luật: Bà K và ông Htự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định nên xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn nên bà K có đơn khởi kiện. Xác định quan hệ pháp luật là “Xin ly hôn” được quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án triệu tập hợp lệ đối với ông Hòa, tuy nhiên ông luôn vắng mặt không rỏ lý do. Bà K cũng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà K và ông Htự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà K yêu cầu được ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án có triệu tập ông Htuy nhiên ông luôn vắng mặt. Cho thấy ông không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, có thái độ bỏ mặc không quan tâm. Bản thân bà K vẩn cương quyết yêu cầu được ly hôn. Xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện của cả 02 bên, nếu một bên không muốn tiếp tục thì dù có duy trì cũng không mang lại hạnh phúc. Do vậy nên chấp nhận nguyện vọng của bà K là cho bà được ly hôn với ông Hòa.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Mai Lan V (nữ), sinh 30/11/2010. Khi ly hôn bà để con cho ông Htiếp tục nuôi dưỡng vì 02 năm nay cháu sống cùng ông Hòa. Bà sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Nên giao con chung cho ông Hnuôi dưỡng. Bà K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mức 745.000đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu V đủ 18 tuổi. Thời hạn cấp dưỡng tính từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu V đủ 18 tuổi.

Đồng thời dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà K theo quy định.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà K cho rằng không có nhưng do ông Hvắng mặt nên cần tách ra nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác

Về án phí: Bà K phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, 35, 147, 227 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị K.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Mai Thị K được ly hôn với ông Trần Văn Hòa.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Mai Lan V (nữ), sinh 30/11/2010 cho ông Htrực tiếp nuôi dưỡng. Bà K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mức 745.000đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu V đủ 18 tuổi.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho bà K theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Tách ra nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.

4. Về án phí: Bà K phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm và 300.000đồng án phí cấp dưỡng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng mà bà đã nộp theo biên lai thu tiền số 006200 ngày 07/7/2020. Bà K phải nộp thêm 300.000đồng.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các hội thẩm nhân dân

Cỡ chữ