- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh A bị truy tố về tội 'Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2019/HS-ST Ngày: 21-11-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Lê Minh Chính;
Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Nguyễn Đình Huân và bà Nguyễn Thị Tơ;
Thư!ký!phiên!tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Hàm Tân;
Đại!diện!viện!kiểm!sát!nhân!dân!huyện!Hàm!Tân!tham!gia!phiên!tòa:
Ông Nguyễn Thành Yên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2019 Hội trường xét xử TAND huyện Hàm Tân
xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2019/TLST-HS
ngày 07/11/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2019/QĐXXST-HS
ngày 08/11/2019 đối với bị cáo:
NGUYỄN THANH A, (Tên"gọi"khác:"Không), sinh năm 1999 tại Bình
Thuận;
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh B.
Nơi cư trú: Không cố định.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Thanh S và bà Phạm Thị T;
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu;
Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 08/9/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ
Công an huyện Hàm Tân. Có"mặt"tại"phiên"tòa."
*"Bị"hại:"
-"Nguyễn Trọng N, sinh năm 1989; (Có"mặt)
HKTT: Thôn M, xã T, huyện H, tỉnh B;
- Nguyễn Văn C, sinh năm 1998; (Vắng"mặt)
HKTT: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh B.
*"Người"có"quyền"và"nghĩa"vụ"liên"quan:""
- Thiều Thị Thanh H, sinh năm 1964; (Có"mặt)"
HKTT: Khu phố M, phường P, thị xã L, tỉnh B;"
- Hoàng Hải Đ, sinh năm 1983; (Có"mặt)"
HKTT: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh B"
- Nguyễn Quốc D, sinh năm 1982; (Vắng"mặt)"
HKTT: Khu phố M, phường P, thị xã L, tỉnh B."
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo"các"tài"liệu"có"trong"hồ"sơ"vụ"án"và"diễn"biến"tại"phiên"tòa,"nội"
dung"vụ"án"được"tóm"tắt"như"sau:"
Nguyễn Thanh A, không có đăng ký hộ khẩu thường trú, từ nhỏ A sống
với cha ruột tại khu phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh B, từ năm 16 tuổi An bỏ nhà đi lang thang. Vì không có nghề nghiệp ổn định, muốn có tiền tiêu xài nên A đã thực hiện một số hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Vào giữa tháng 08/2019, khi đi đến gần khu vực cây xăng
H thuộc thôn H, xã T, huyện H thì Nguyễn Thanh A gặp anh Nguyễn Trọng N, sinh năm 1989 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha kiểu dáng Sirius biển kiểm soát 86N1 – 4254 (Xe này anh N mượn của Hoàng Hải Đ). Lúc này, A nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh N đang đi nên A đã nói dối với anh N là cho A mượn xe đi lấy đồ rồi về trả xe liền, anh N tin lời A nói nên đồng ý cho mượn. Sau khi mượn được xe, A điều khiển xe đến tiệm cầm đồ N do anh Nguyễn Quốc D làm chủ cầm cố được 7.000.000 đồng. Khi cầm cố xe, A nói với D đó là xe của gia đình nên D đồng ý cầm cố. Ngày hôm sau, A đến gặp D và nói là không có tiền chuộc xe và thỏa thuận bán xe trên cho anh D với giá 7.200.000 đồng. Số tiền trên A đã tiêu xài cá nhân hết. Đối với xe này, anh D đã bán lại cho một người không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Vụ thứ hai: Vào chiều ngày 23/8/2019, sau khi sử dụng hết số tiền bán
xe mô tô 86N1-4254, Nguyễn Thanh A đến nhà anh Nguyễn Văn C, là bạn học của A với ý định lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe của anh C. Khi đến nhà gặp anh C, A rủ C đi uống cà phê thì C đồng ý và điều khiển xe mô tô biển kiếm soát 86B5-215.16 hiệu Winner chở A đến quán cà phê S thuộc thôn N, xã T, huyện H. Tại đây A nói dối với anh C cho A mượn xe về nhà lấy đồ thì được C đồng ý. Ngay sau khi anh C giao xe, A điều khiển xe đến tiệm cầm đồ N thuộc khu phố 10, Phước Hội, La Gi, Bình Thuận để cầm cố với giá 22.000.000 đồng, khi cầm cố A nói là xe của gia đình. Khoảng 03 ngày sau, A thỏa thuận bán xe trên cho chị Thiều Thị Thanh H với giá 27.000.000 đồng, chị H trả trước cho A 25.000.000 đồng, còn lại 2.000.000 đồng hẹn sẽ trả khi làm xong thủ tục sang tên. A dùng số tiền chị H đưa trả tiền gốc và lãi cho tiệm N và lấy xe ra giao cho chị H. Sau đó 03 ngày, A dẫn 01 thanh niên không rõ nhân thân lai lịch đến nhà chị H, ba bên thỏa thuận là A bán xe cho người thanh niên này với giá 27.000.000 đồng,
người này đưa cho A 2.000.000 đồng, khi nào giao đủ 25.000.000 đồng cho chị
H thì chị H giao xe, A đưa trả cho chị H 1.000.000 đồng tiền lãi. Tuy nhiên, đến
ngày hôm sau người thanh niên trên đến gặp chị H nói không đủ tiền mua xe và
đề nghị chị H trả cho người này 2.000.000 đồng thì chị H đồng ý trả. Quá trình
điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thu giữ xe mô tô biển
kiếm soát 86B5-215.16 do chị H giao nộp.
Theo Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố
tụng Hình sự huyện H kết luận giá trị của xe mô tô biển kiếm soát 86N1-4254 là
8.500.000 đồng và mô tô biển kiếm soát 86B5-215.16 là 25.500.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 11/8/2019, lợi dụng sự tin tưởng của anh Nguyễn Vũ Phi
C, Nguyễn Thanh A đã chiếm đoạt xe máy biển kiểm soát 86UA-3134, giá trị xe
được kết luận là 525.000 đồng; Ngày 15/8/2019 Nguyễn Thanh A chiếm đoạt 01
xe mô tô biển kiểm soát 60K5-5947 của anh Nguyễn Văn T, giá trị xe được kết
luận là 1.250.000 đồng. Do Nguyễn Thanh A chưa có tiền án, tiền sự và giá trị
tài sản chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an huyện H đã ra Quyết định không khởi tố vụ án.
Vật chứng của vụ án: Xe mô tô biển kiểm soát 86B5-215.16 đã được
giao trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn C và xe máy BKS 86N1-4254
hiện không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Trọng N yêu cầu bị cáo phải bồi
thường số tiền 16.000.000 đồng. Chị Thiều Thị Thanh H yêu cầu bị cáo phải
hoàn trả số tiền 27.000.000 đồng. Hiện bị cáo vẫn chưa thực hiện.
Cáo trạng số 60/CT-VKS-HT ngày 07/11/2019 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện H đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố và thống nhất với các
điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã viện dẫn trong Cáo trạng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố
luận tội và tranh luận đã phân tích hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội
đồng xét xử tuyên bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như nội dung
Cáo trạng, đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định
mức hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị: Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều
174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh A từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
* Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đồng ý với nội dung và tội danh mà Cáo trạng
của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố, tuy nhiên xin Hội đồng xét xử
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên"cơ"sở"nội"dung"vụ"án,"căn"cứ"vào"các"tài"liệu"trong"hồ"sơ"vụ"án"đã"
được"tranh"tụng"tại"phiên"tòa,"Hội"đồng"xét"xử"nhận"thấy"như"sau:"
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy
tố, xét xử.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình, phù hợp với lời khai và các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Bị cáo đã hai lần chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Vào giữa tháng 08/2019, bị cáo Nguyễn Thanh A muốn chiếm đoạt xe
máy BKS 86N1 – 4254 mà anh Nguyễn Trọng N mượn của anh Nguyễn Hải Đ nên đã nói dối với N mượn xe đi lấy đồ. Tin tưởng nên N cho bị cáo mượn, sau khi mượn được xe thì bị cáo mang xe đến tiệm cầm đồ N cầm cố với giá 7.000.000 đồng, sau đó N đến nói với anh D không có tiền chuộc xe nên bán cho anh D với giá 7.200.000 đồng. Giá trị xe máy BKS 86N1 – 4254 được định giá là 8.500.000 đồng;
Ngày 23/8/2019, A nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy BKS 86B5-
215.16 của anh Nguyễn Văn C nên đến rủ anh C đi uống cà phê, sau đó nói dối với anh C mượn xe đi lấy đồ, sau khi mượn được xe, bị cáo mang xe đến tiệm cầm đồ N cầm cố với giá 22.000.000 đồng, sau đó bị cáo thỏa thuận bán xe trên cho chị Thiều Thị Thanh H với giá 27.000.000đồng, bị cáo đã nhận 25.000.000đồng của chị H, còn 2.000.000 đồng chị H giữ lại đợi làm thủ tục sang tên, sau đó bị cáo đến lấy 2.000.000 đồng còn lại nhưng chị H không đưa. Bị cáo tìm được người khác đồng ý mua xe máy của anh C với giá 27.000.000 đồng và dẫn người thanh niên này đến gặp chị H, cả ba thỏa thuận A bán xe cho người thanh niên với giá 27.000.000 đồng, người thanh niên đưa cho A thêm 2.000.000 đồng, đợi người thanh niên này giao cho chị H 25.000.000 đồng thì chị H sẽ giao xe. Ngày hôm sau, người thanh niên này đến gặp chị H báo rằng không có tiền mua xe nên đề nghị chị H trả lại 2.000.000 đồng mà A đã nhận, chị H đã trả cho người thanh niên này 2.000.000 đồng. Giá trị xe máy BKS 86B5 – 215.16 được định giá là 25.500.000 đồng.
Tại các biên bản ghi lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ
liên quan; biên bản hỏi cung; lời khai bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa đều thống nhất hành vi của bị cáo đúng như Cáo trạng đã nêu.
Bị cáo dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác với
tổng trị giá 34.000.000 đồng, hành vi của bị cáo xâm phạm khách thể được Luật Hình sự bảo vệ là quyền sở hữu tài sản của công dân. Bị cáo có đủ năng lực
trách nhiệm hình sự, nhận thức hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài
sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy,
hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định
tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện H
truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều
174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật
Bị cáo Nguyễn Thanh A nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản
của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng với bản tính chây lười lao động, bị
cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi
của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của
người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật
tự tại địa phương. Vì vậy cần phải dành cho bị cáo mức án thật nghiêm khắc,
tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn
đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Trọng N không
yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị xe máy BKS 86N1 – 4254, bị cáo đồng ý với ý
kiến của anh N. Tại phiên tòa, người có quyền, nghĩa vụ liên quan bà Thiều Thị
Thanh H yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 27.000.000 đồng, bị cáo đồng ý
theo yêu cầu của bà H. Đây là sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự, không
trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo hai lần thực hiện hành vi lừa đảo
chiếm đoạt tài sản. Mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên thuộc trường
hợp phạm tội nhiều lần. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy
định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội cũng như
tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Có
nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, Sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đây là các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản
2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi chiếm đoạt xe máy BKS 86UA-3134 được định giá
là 525.000 đồng và xe máy BKS 60K5-5947 được định giá là 1.250.000 đồng,
đây là hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng không cùng loại với hành vi lừa đảo
chiếm đoạt tài sản mà bị cáo bị truy tố, hơn nữa, tổng giá trị của tài sản bị chiếm
đoạt chưa đủ định lượng để khởi tố, ngoài ra, bản thân bị cáo chưa có tiền án,
tiền sự gì nên Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Tân ra quyết định không
khởi tố vụ án là có căn cứ.
Đối với việc mua xe máy BKS 86N1-4254 của anh Nguyễn Quốc D
và xe máy BKS 86B5–215.16 của chị Thiều Thị Thanh H, cả chị H và anh D
đều không biết hai xe máy nêu trên là tài sản do A phạm tội mà có nên không
phải chịu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Về vật chứng vụ án: Xe mô tô biển kiểm soát 86B5-215.16 đã được
giao trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn C và xe máy BKS 86N1-4254
hiện không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì"các"lẽ"trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51,
điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh A 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời
hạn tù được tính từ ngày 08/9/2019.
2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng: Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357,
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh A hoàn trả cho bà Thiều Thị Thanh H số
tiền 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hanh
án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án
3. Án phí: Áp dụng: Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và
1.350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại, người
có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định
Trường"hợp"bản"án"được"thi"hành"án"theo"quy"định"tại"Điều"2"Luật"Thi"
hành"án"dân"sự"thì"người"được"thi"hành"án"dân"sự,"người"phải"thi"hành"án"dân" sự"có"quyền"thoả"thuận"thi"hành"án,"yêu"cầu"thi"hành"án,"tự"nguyện"thi"hành"án" hoặc"bị"cưỡng"chế"thi"hành"án"theo"quy"định"tại"các"điều"6,7,"7a"và"9"Luật"Thi"" hành"án"dân"sự;"thời"hiệu"thi"hành"án"được"thực"hiện"theo"quy"định"tại"Điều"30" Luật"Thi"hành"án"dân"sự." * Nơi nhận:
| - VKSND tỉnh B; - VKSND huyện H - Công an huyện H; - Cơ quan THAHS CA tỉnh B; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Chi cục THADS H; - UBND địa phương bị cáo cư trú. " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " " | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Minh Chính |