vanban.org

Bản án 60/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Xin ly hôn” của chị Đoàn Thị Hồng Th.

Về con chung: Giao cho chị Đoàn Thị Hồng Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Ngô Hoàng H1, sinh ngày 18/10/2015 cho đến tuổi thành niên. Việc quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, cấp dưỡng nuôi con và thăm nom con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đoàn Thị Hồng Th xin ly hôn anh Ngô Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Xin ly hôn” của chị Đoàn Thị Hồng Th.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 60/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 10 - 2019
V/v: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên

Ông Mai Phú

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Dĩ Ly Đan - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 523/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2019 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Hồng Th, sinh năm: 1992

Địa chỉ: Tổ 1, thôn Đa Lộc, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Tạm trú: Ấp 7, xã N, huyện Th, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Ngô Văn H, sinh năm 1990

Địa chỉ: Tổ 6, thôn Đa Thọ, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng

(Các đương sự đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn chị Đoàn Thị Hồng Th và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì:

Chị Đoàn Thị Hồng Th và anh Ngô Văn H đăng ký kết hôn năm 2014, tại Ủy ban nhân dân xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhà chồng tại xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, tính cách không thể hòa hợp. Hiện nay, vợ chồng đã sống ly thân được 3 năm. Chị Th nhận thấy tình cảm không còn; mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Văn H.

- Về con chung: Chị Th xác định vợ chồng có 01 con chung là Ngô Hoàng H1, sinh ngày 18/10/2015, hiện con đang ở với mẹ. Ly hôn, chị Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung; không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai của bị đơn anh Ngô Văn H các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì:

Anh Ngô Văn H và chị Đoàn Thị Hồng Th kết hôn năm 2014 như chị Th trình bày là đúng. Hôn nhân do đôi bên tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà bố mẹ tại xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do trước khi kết hôn anh H có ham chơi và dẫn đến nợ nần, anh H không cho chị Th biết về việc này. Sau khi chị Th sinh con được hơn một tuổi thì chị Th đi xuống Sài gòn làm nên tình cảm ngày càng xa cách. Tuy nhiên, sau thời gian về suy nghĩ anh H nhận thấy vẫn còn tình cảm với vợ và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con chung.

- Về con chung: Anh H xác định vợ chồng có 01 con chung là Ngô Hoàng H1, sinh ngày 18/10/2015, hiện con đang ở với mẹ. Trong trường hợp ly hôn anh H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa, chị Đoàn Thị Hồng Th vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Ngô Văn H, đồng thời yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Ngô Hoàng H1, sinh ngày 18/10/2015 cho đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Anh Ngô Văn H không đồng ý ly hôn với chị Th; anh đồng ý giao con chung cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng với điều kiện chị Th không được giao con cho anh chị em của mình chăm sóc; chị Th không được ngăn cản anh thăm nom con.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và trình tự thủ tục xét xử tại phiên tòa là đúng theo quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của các đương sự đúng quy định. Đối với nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th đối với anh Ngô Văn H; giao con chung là Ngô Hoàng H1, sinh ngày 18/10/2015 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con chị Th không yêu cầu nên không xem xét; tài sản chung và nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về nội dung vụ án: Chị Đoàn Thị Hồng Th và anh Ngô Văn H đăng ký kết hôn vào năm 2014, tại Ủy ban nhân dân xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc với nhà bố mẹ chồng tại xã X thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có sự tin tưởng; đồng cảm; không còn tôn trọng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải, anh H có mặt và mong muốn chị Th cho anh cơ hội để trở về đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con và xây dựng hạnh phúc gia đình. Tại phiên tòa, anh H cũng mong chị Th quay về để vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị Th không đồng ý. Xét thấy, hiện nay chị Th đã cùng con sinh sống tại tỉnh Long An còn anh H hiện sống tại xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; chị Th và anh H đã sống ly thân từ tháng 9/2016 đến nay; bản thân chị Th xác định không con tình cảm với anh H; điều kiện hàn gắn tình cảm là khó có thể thực hiện; mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th, cho chị Th được ly hôn với anh H là phù hợp.

Về con chung: Cả hai xác định vợ chồng có 01 con chung là Ngô Hoàng H1, sinh ngày 18/10/2015, hiện con đang ở với mẹ. Ly hôn, chị Th yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến tuổi trưởng thành. Anh H cũng đồng ý nên giao con chung cho chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Th không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th và anh H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.

Về án phí: Chị Đoàn Thị Hồng Th phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51; 53; 54; 56 và 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Xin ly hôn” của chị Đoàn Thị Hồng Th. Chị Đoàn Thị Hồng Th và anh Ngô Văn H được ly hôn với nhau.

Về con chung: Giao cho chị Đoàn Thị Hồng Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Ngô Hoàng H1, sinh ngày 18/10/2015 cho đến tuổi thành niên.

Việc quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, cấp dưỡng nuôi con và thăm nom con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về án phí: Chị Đoàn Thị Hồng Th phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Th đã tạm nộp theo biên lai thu số 0012485 ngày 13 tháng 8 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ. Chị Th đã nộp đủ.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Th và anh H có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ