vanban.org

Bản án 60/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lại Thị Bích L được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.

Về con chung: Giao cho chị Lại Thị Bích L trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Hoài A, sinh ngày 20/9/2013 và Nguyễn Xuân P, sinh ngày 10/8/2016 và chấp nhận việc chị L không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Việc thay đổi nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một tro… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L và anh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lại Thị Bích L được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƢNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2019/HNGĐ-ST
Ngày 19/11/2019
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Hiển.

2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên toà:

Bà Vũ Thị Huế - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2019/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2019, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2019/QĐXX-ST ngày 14 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lại Thị Bích L, sinh năm 1990

Trú tại: Tổ 3, thị trấn Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

* Bị đơn:

Anh Nguyễn Xuân T, sinh n¨m 1985

Trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa chị L có mặt; anh T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện ngày 21/6/2019; tại bản tự khai ngày 24/6/2019 và tại phiên tòa chị Lại Thị Bích L nguyên đơn trình bày:

* Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Xuân T ngày 29/11/2012 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T chơi bời, nợ nần, không quan tâm đến vợ con, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên đã nẩy sinh cãi vã, xích mích, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2019. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T.

* Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Nguyễn Hoài A, sinh ngày 20/9/2013 và Nguyễn Xuân P, sinh ngày 10/8/2016, ly hôn chị xin trực tiếp nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

2. Đối với bị đơn anh Nguyễn Xuân T: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T không có mặt để tham gia tố tụng tại Tòa án.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 02/10/2019 đối với bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1957 (là mẹ đẻ anh Nguyễn Xuân T); trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, trình bày như sau: Anh T và chị L có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn anh T, chị L sống cùng gia đình bà, sau đó thì chuyển đến thị trấn Đ để sinh sống. Quá trình chung sống anh T có nợ nần nên vợ chồng có xảy ra cãi vã, xích mích. Nay chị L xin ly hôn anh T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị L và anh T có 02 con chung là Nguyễn Hoài A, sinh ngày 20/9/2013 và Nguyễn Xuân P, sinh ngày 10/8/2016, chị L, anh T ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật

Về các văn bản tố tụng: Thời điểm Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác thì anh T vẫn ở nhà, sau đó anh T mới đi làm ăn xa. Các văn bản của Tòa án gửi cho anh T, bà có trách nhiệm nhận và thông báo cho anh T biết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn tuy đã nhận được thông báo của Tòa án về việc chị L xin ly hôn nhưng anh T vẫn vắng mặt không trực tiếp đến Tòa án làm việc nên việc chấp hành pháp luật của bị đơn là chưa nghiêm chỉnh.

- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân đề nghị HĐXX xử cho chị Lại Thị Bích L được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T.

Về con chung: Chị L và anh T có 02 con chung là Nguyễn Hoài A, sinh ngày 20/9/2013 và Nguyễn Xuân P, sinh ngày 10/8/2016, hiện nay con đang ở cùng chị L nên giao cả 02 con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, và chấp nhận việc tại phiên tòa chị L không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị L không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét toàn bộ các tài liệu chứng cứ và ý kiến của các đương sự tại các lời khai và tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Đông Hưng, quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản mà chỉ giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung, vì vậy căn cứ vào các Điều 28; 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân huyện Đông Hưng giải quyết là đúng thẩm quyền, đúng pháp luật. Anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên tại phiên tòa thứ nhất anh T vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất. Tại phiên tòa thứ hai anh T vẫn tiếp tục vắng mặt, HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lại Thị Bích L và anh Nguyễn Xuân T kết hôn ngày 29/11/2012 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T có chơi bời, nợ nần, không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng xảy ra xích mích và cãi nhau. Nay chị L xin ly hôn, qua gia đình, anh T đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến trực tiếp Tòa án để tham gia tố tụng và thông qua gia đình đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại biên bản xác minh ngày 02/10/2019 chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. HĐXX thấy rằng chị L, anh T đã xảy ra mâu thuẫn, anh T tuy đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhưng anh T không đến Tòa tham gia các buổi hòa giải do Tòa án tiến hành mục đích để vợ chồng thông cảm, chia sẻ khó khăn trong cuộc sống cùng nhau nuôi dậy con chung và làm ăn phát triển kinh tế gia đình nên xác định tình cảm vợ chồng giữa chị L, anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị L, xử cho chị L được ly hôn với anh T là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị L, anh T có 02 con chung là Nguyễn Hoài A, sinh ngày 20/9/2013 và Nguyễn Xuân P, sinh ngày 10/8/2016, hiện nay con đang ở cùng chị L, quá trình giải quyết vụ án anh T không trực tiếp đến Tòa án làm việc nên việc giao con cho anh T sẽ không đảm bảo quyền lợi cho con, vì vậy giao cả 02 con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và chấp nhận việc chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Chị L, anh T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147 và Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lại Thị Bích L được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.

2. Về con chung: Giao cho chị Lại Thị Bích L trực tiếp nuôi 02 con chung là Nguyễn Hoài A, sinh ngày 20/9/2013 và Nguyễn Xuân P, sinh ngày 10/8/2016 và chấp nhận việc chị L không yêu cầu anh T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Việc thay đổi nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Chị Lại Thị Bích L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lại Thị Bích L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng, chị L đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008113 ngày 06/8/2019 thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Chị Lại Thị Bích L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Xuân T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ