vanban.org

Bản án 60/2019/DSST-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang Tuyên án 28/08/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "hợp đồng tín dụng"
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
__________
Bản án số: 60/2019/DSST-ST
Ngày: 28/08/2019.
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI T NH AN GIANG

- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hồng;

2. Ông Trịnh Văn Bé.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện h M i t nh n iang: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 28 tháng 08 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 217/2019/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2019, về tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 321/2019/QĐST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP cổ phần Việt Nam V (VP BanK). Trụ sở số 89, L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Trung T. Chức vụ: Chuyên viên tố tụng – VPBank AMC (văn bản ủy quyền ngày 28/8/2019); địa chỉ: tầng 02, số 96 C, phường 4, quận 3, T phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

2. Bị đơn: Bà Đặng Thị Bạch T, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG V ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản không hòa giải được hòa giải, đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam V(VP BanK) ông Nguyễn Trung T trình bày: Vào ngày 06/12/2016, Ngân hàng Thương Mại cổ phần Việt Nam V đã cấp tín dụng cho bà Đặng Thị Bạch T theo giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn ngày 28/11/2016 số tiền vay 52.500.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, bà T không có đăng ký kinh doanh.

Quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký. Phía Ngân hàng VPBank đã nhiều lần liên hệ và tạo điều kiện cho bà T thanh toán nhưng bà cố tình tránh né không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam V (VP Bank) yêu cầu bà Đặng Thị Bạch T trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam V (VP Bank) tổng số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 28/8/2019 là:

- Nợ gốc: 32.662.466 đồng.

- Nợ lãi: 37.915.062. đồng.

- Tổng cộng: 70.578.412 đồng.

Ngoài ra bà Đặng Thị Bạch T phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam V(VP Bank) tiền lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng đã ký kể từ ngày 29/8/2019 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ bà Đặng Thị Bạch T không đến tham gia phiên họp và hòa giải theo đúng trình tự của pháp luật nhưng bà T không đến nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Bị đơn bà Đặng Thị Bạch T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] V thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn bà Đặng Thị Bạch T yêu cầu trả số tiền vay 52.500.000 đồng, và tiền lãi còn nợ. Đây là tranh chấp dân sự hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện C thụ lý giải quyết là đúng theo quy định Điều 26; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân huyện C đã thực hiện các thủ tục tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn bà Đặng Thị Bạch T vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] V nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Đặng Thị Bạch T trả tiền theo giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ số tiền 52.500.000 đồng đồng. Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng phía bà T vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử. Tuy nhiên cho đến hôm nay bà T không có ý kiến gì. Do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có giá trị pháp lý, đến nay đã hết hạn nhưng vẫn chưa trả vốn gốc. Do bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả số tiền vốn 32.662.466 đồng là phù hợp Điều 95 Luật tổ chức tín dụng.

Đối với tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn, phần nợ lãi bà T phải thanh toán tính đến ngày 28/8/2019 căn cứ theo quy định yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp nghĩ nên chấp nhận. Tính đến ngày 28/8/2019 số tiền lãi là 37.915.946 đồng, lãi phát sinh tương ứng theo lãi suất chậm trả được quy định theo hợp đồng cho đến khi bà T thanh toán toàn bộ khoản tiền vay.

Từ những cơ sở trên Hội đồng xét xử nghĩ nên buộc bà T phải trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc 32.662.466 đồng và lãi suất phát sinh tính đến ngày 28/8/2019 là 37.915.946 đồng. Tổng cộng số tiền vốn và lãi là 70.578.412 đồng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Đặng Thị Bạch T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ vào: Điều 463; 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;

Khoản 2 Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Điều 26, 35, 39, 144, 146, 147, 228, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam V.

Buộc bà Đặng Thị Bạch T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam V số tiền vốn gốc 32.662.466 đồng (ba mươi hai triệu sáu trăm sáu mươi hai ngàn bốn trăm sáu mươi sáu đồng) và lãi suất phát sinh tính đến ngày 28/8/2019 là 37.915.496 đồng (ba mươi bảy triệu chín trăm mười lăm ngàn bốn trăm chín mươi sáu đồng). Tổng cộng số tiền vốn và lãi 70.578.412 đồng (bảy mươi triệu năm trăm bảy mươi tám ngàn bốn trăm mươi hai đồng).

Kể từ ngày 29/8/2019 bà Đặng Thị Bạch T còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Án phí DSST: Bà Đặng Thị Bạch T phải chịu án phí 3.528.920 đồng (ba triệu năm trăm hai mươi tám ngàn chín trăm hai mươi đồng).

Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP Việt Nam V số tiền 1.486.000 đồng (một triệu bốn trăm tám mươi sáu ngàn đồng) theo biên lai số 0013045 ngày 16/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ