- Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp dân sự"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C – TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2019/DS-ST Ngày: 18/9/2019 V/v “Tranh chấp Hợp đồng mua bán” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Rẻn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Trường.
2. Ông Phan Hồng Sáng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Giả Huệ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C – Bến Tre.
Ngày 18 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 196/2019/TLST-DS ngày 18/7/2019 về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2019/QĐST - DS ngày 04 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Quốc Đ, sinh năm 1983
Địa chỉ: số 132, khu phố A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bến Tre
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Dương Kim H, sinh năm
1964; địa chỉ D2, Cư xá Phú Lâm B, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (Tại
văn bản ủy quyền số 38 ngày 07/8/2019)
2. Bị đơn: 2.1 Ông Lê Văn L, sinh năm 1954
2.2 Bà Trần Thị N (N1), sinh năm 1956
Cùng địa chỉ: ấp F, xã G, huyện C, tỉnh Bến Tre
( Tất cả cùng có mặt tại Tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/7/2019, trong quá tr nh t t ng ông Nguyễn Dương Kim H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Qu c Đ trình bày:
Ông Trần Quốc Đ là chủ hộ kinh doanh của cơ sở thức ăn thủy sản Quốc Đ. Từ năm 2017 đến năm 2019 vợ chồng ông Lê Văn L, bà Trần Thị N có đến cơ sở của ông Đ mua thức ăn, thuốc về nuôi tôm nhiều lần. Việc mua bán có ghi vào sổ cho đôi bên giữ. Khi mua bán cùng nhau, phía ông L, bà Nthỏa thuận sẽ thanh toán dứt nợ cho ông Đ vào thời gian thu hoạch tôm. Thời gian đầu ông L, bà N thanh toán tiền cho ông Đ rất tốt nhưng sau đó thì số tiền thiếu lại ngày càng tăng lên. Đến tháng 01 năm 2018 ông L, bà N thiếu ông Đ số tiền 76.098.000 đồng; Từ tháng 03/2019 đến tháng 5/2019 ông L, bà N tiếp tục thiếu ông Đ thêm số tiền 68.133.000 đồng. Sau nhiều lần nhắc nhỡ thì ông L, bà N có thanh toán cho ông Đ được 24.000.000 đồng vào ngày 03/6/2019, đồng thời đôi bên có lập Giấy xác nhận nợ. Kể từ thời gian trên phía ông L, bà N không thánh toán thêm cho ông Đ số tiền nào. Vì vậy, ông Đ khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông L, bà N liên đới thanh toán cho ông Đ số tiền nợ gốc đã mua thức ăn và thuốc thủy sản là 144.231.000 đồng, tiền lãi trên nợ gốc với mức lãi suất 1,125%/tháng tính từ tháng 3/2019 đến tháng tòa xét xử, số tiền 24.000.000 đồng ông L, bà Nthanh toán vào ngày 03/6/2019 ông Đ sẽ khấu trừ vào tổng số tiền phải thanh toán của ông L, bà Ngởi.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Dương Kim H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Quốc Đ xác định nguyên đơn Trần Quốc Đ chỉ yêu cầu tòa buộc ông Lê Văn L, bà Trần Thị N có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Đ số tiền mua thứa ăn và thuốc thủy sản tổng cộng là 124.288.796 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu, hai trăm tám mươi tám ngàn, bảy trăm chín mươi sáu đồng). Trong đó tiền nợ gốc là 120.231.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu, hai trăm ba mươi mốt ngàn đồng), tiền lãi của số tiền 120.231.000 đồng tính từ ngày 03/6/2019 đến ngày 03/9/2019 (là 03 tháng) với mức lãi suất 1,125%/tháng thành tiền lãi là 4.057.796 đồng (Bốn triệu, không trăm năm mươi bảy ngàn, bảy trăm chín mươi sáu đồng).
Trong quá tr nh t t ng c ng như tại phiên tòa ph a bị đơn ông Lê Văn L, bà Trần Thị Ntrình bày:
Trong quá trình làm kinh tế, từ năm 2013 vợ chồng ông L, bà N có nhiều lần mua thức ăn tôm, thuốc nuôi tôm từ cơ sở của ông Đ về nuôi tôm. Thời gian đầu vợ chồng ông L, bà N thanh toán tiền cho ông Đ rất đầy đủ, đúng hạn. Từ tháng 2/2019 vì nuôi tôm không thuận lợi nên có thiếu lại ông Đ một phần tiền mua thức ăn tôm, thuốc nuôi tôm. Đến tháng 3/2019 đôi bên có ngồi chốt nợ lại với nhau số nợ ông L, bà N còn thiếu ông Đ, có lập thành văn bản đó là Giấy xác nhận nợ ngày 03/6/2019. Phía vợ chồng ông L, bà N có xác nhận (ông L ký tên, bà N gạch dấu thập vì không biết chữ). Tại buổi làm giấy xác nhận nợ vợ chồng ông L, bà N có trả cho ông Đ được số tiền 24.000.000 đồng. Chỉ thiếu lại ông Đ số tiền 120.231.000 đồng. Từ đó tới nay chưa thanh toán được cho ông Đ thêm số tiền nào. Hiện nay ông Đ không bán thiếu thức ăn nuôi tôm cho ông L, bà N và ông L, bà N cũng chưa thanh toán được số tiền 120.231.000 đồng cho ông Đ nên bị ông Đ khởi kiện. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ thì ông L, bà N đồng ý thanh toán cho ông Đ số tiền 120.231.000 đồng nhưng xin thanh toán dần 30.000.000 đồng/năm, còn tiền lãi thì xin không trả vì hiện giờ hoàn cảnh quá khó khăn, không có khả năng thanh toán một lần.
Ý kiến nói trên của ông L, bà N không được người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý.
Từ các lời trình bày trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét việc ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L, bà N có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Đ số tiền mua thức ăn, thuốc nuôi tôm còn thiếu tổng cộng là 124.288.796 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu, hai trăm tám mươi tám ngàn, bảy trăm chín mươi sáu đồng). Trong đó: tiền nợ gốc là 120.231.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu, hai trăm ba mươi mốt ngàn đồng), tiền lãi của số tiền 120.231.000 đồng tính từ ngày 03/6/2019 đến ngày 03/9/2019 (là 03 tháng) với mức lãi suất 1,125%/tháng thành tiền lãi là 4.057.796 đồng (Bốn triệu, không trăm năm mươi bảy ngàn, bảy trăm chín mươi sáu đồng) Hội đồng xét xử thấy:
Việc mua bán thức ăn, thuốc nuôi tôm giữa ông Đ và ông L, bà N là hoàn toàn tự nguyện, không có sự lừa dối, ép buộc. Trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận có việc mua bán cùng nhau, thừa nhận ngày 03/6/2019, ông L, bà N có trả cho ông Đ số tiền 24.000.000 đồng và đôi bên có lập giấy xác nhận chốt số nợ ông L, bà Ncòn thiếu ông Đ là 120.231.000 đồng. Giấy xác nhận nợ ngày 03/6/2019 được xem là chứng cứ để Tòa án giải quyết vụ kiện.
Từ ngày chốt nợ (ngày 03/6/2019) đến nay ông L, bà N chưa thanh toán được ông Đ số tiền nợ gốc 120.231.000 đồng còn thiếu là ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông Đ. Việc ông Đ khởi kiện yêu cầu ông L, bà N thanh toán tiền mua thức ăn và thuốc nuôi thủy sản chưa thanh toán tổng cộng là 124.288.796 đồng là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 357, 430, 440, 688 Bộ Luật Dân sự năm 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Việc thừa nhận nợ, nhưng xin trả dần tiền gốc, xin phần tiền lãi của phía bị đơn ông L, bà N là không được người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chấp nhận và cũng không có căn cứ pháp luật nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí DS-ST có giá ngạch: 6.214.439 đồng bị đơn phải nộp tuy nhiên ông L, bà N thuộc diện người cao tuổi nên được miễn nộp theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên.
QUYEÁT ÑÒNH
Áp dụng các Điều 357, 430, 440, 688 Bộ Luật Dân sự năm 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội . Tuyeân xöû:
1/-Chaáp nhaän một phần yeâu caàu khởi kiện cuûa nguyên đơn ông Trần Quốc Đ. Buoäc bị đơn ông Lê Văn L, bà Trần Thị N coù nghóa vuï lieân ñôùi thanh toán cho ông Trần Quốc Đ soá tieàn laø 124.288.796 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu, hai trăm tám mươi tám ngàn, bảy trăm chín mươi sáu đồng). Trong đó: tiền gốc là 120.231.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu, hai trăm ba mươi mốt ngàn đồng), tiền lãi là 4.057.796 đồng (Bốn triệu, không trăm năm mươi bảy ngàn, bảy trăm chín mươi sáu đồng).
2/- Không chấp nhận việc ông Lê Văn L, bà Trần Thị N yêu cầu thanh toán dần cho ông Đ số tiền gốc 120.231.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu, hai trăm ba mươi mốt ngàn đồng) dưới hình thức 30.000.000 đồng/năm và không phải thanh toán số tiền lãi 4.057.796 đồng (Bốn triệu, không trăm năm mươi bảy ngàn, bảy trăm chín mươi sáu đồng).
Keå töø khi aùn coù hiệu löïc pháp luật, coù ñôn yeâu caàu thi haønh aùn của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3/- Án phí daân söï sô thaåm coù giaù ngaïch: 6.214.439 đồng (Sáu triệu, hai trăm mười bốn ngàn, bốn trăm ba mươi chín đồng) bị đơn ông Lê Văn L, bà Trần Thị N phải nộp, tuy nhiên ông L, bà N thuộc diện người cao tuổi nên được miễn nộp số tiền án phí nói trên.
Hoàn trả cho nguyên đơn ông Trần Quốc Đ soá tieàn taïm öùng aùn phí ñaõ noäp laø 3.290.000 đồng (Ba triệu, hai trăm chín mươi ngàn đồng) theo bieân lai thu tieàn soá 0004977 ngaøy 11/7/2019 cuûa Chi cuïc thi haønh aùn daân söï huyeän Ba Tri.
Trường hợp baûn aùn, quyết ñịnh ñược thi haønh theo quy ñịnh tại Điều 2 Luật Thi haønh aùn daân sự thì người ñược thi haønh aùn daân söï, người phải thi haønh aùn daân söï coù quyền thỏa thuận thi haønh aùn, quyền yeâu cầu thi haønh aùn, tự nguyện thi haønh aùn hoặc bị cưỡng chế thi haønh aùn theo quy ñònh tại caùc ñieàu 6, 7, 7a, 7b vaø 9 Luật Thi haønh aùn daân sự; thời hiệu thi haønh aùn ñược thực hiện theo quy ñịnh tại Ñiều 30 Luật thi haønh aùn daân sự.
Các đương sự coù quyeàn làm đơn khaùng caùo trong thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện C; - THADS huyện C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Rẻn |