vanban.org

Bản án 60/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 07/08/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: điểm b tiểu mục 2.

Tuyên xử: 1. Kh ng chấp nh n toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn – ông Mang P, bà Nguy n hị và người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, về việc: + Yêu cầu hủy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguy n hị và ng Nguy n Văn C ngày 04/8/1989, đối với diện tích 7.488m2 đất tọa l c t i hu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Phúc thẩm — đang xem Bản án 60/2019/DS-PT Tuyên án 07/08/2019
Giám đốc thẩm Bản án 372/2018/DS-GĐT Tuyên án 29/11/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Mang P-Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm b tiểu mục 2.
  • Căn cứ chính? Điều 48 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2019/DS-PT
Ngày 07-8-2019
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N N TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Nguy n ồng hái

Các Thẩm phán: Bà Nguy n hị Lộc

Ông Bích Văn Nhiên

- Thư ký phiên tòa: Bà uỳnh hị Kim oa - Thẩm tra viên Tòa án nhân d n t nh B nh hu n

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh B nh Thu n tham gia phiên tòa: Bà Ngô hị hu hủy - Kiểm sát viên

Trong các ngày 01 và 07 tháng 8 năm 2019, t i trụ s

a án nh n d n t nh B nh hu n t ử ph c thẩm c ng hai vụ án thụ lý số: 35/2019/TLPT-DS ngày 14 tháng 02 năm 2019, về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án d n sự sơ thẩm số 17/DS-S ngày 23/4/2014 của a án nh n d n thành phố Phan hiết bị háng cáo.

heo Quyết định đưa vụ án ra t ử ph c thẩm số 138/2019/QĐ-PT ngày 15/7/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Mang P, sinh năm 1914 (đã chết ngày 27/3/2011)

Bà Nguy n hị , sinh năm 1929 (đã chết ngày 11/9/2014)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Mang P và bà Nguyễn Thị T:

1. ng Mang L, sinh năm 1962

2. Bà Mang hị Ngọc N, sinh năm 1969

3. Bà Mang hị M, sinh năm 1975

4. Bà Mang hị N, sinh năm 1958

5. Bà Mang hị Ngọc L, sinh năm 1979 6. Bà Mang hị C, sinh năm 1968 Cùng địa ch : hu phố B, phường MN, thành phố P , t nh B nh hu n 7. ng Mang , sinh năm 1952 Địa ch : England 8. Bà Mang hị Đ, sinh năm 1952 Địa ch : 32 D , phường T, qu n B, P. CM 9. Bà Mang hị N, sinh năm 1968 Địa ch : hu phố S, phường MN, thành phố P , t nh B nh hu n Người đại diện hợp pháp của bà Mang Thị Ngọc N, bà Mang Thị M, bà Mang Thị N, bà Mang Thị Ngọc L, bà Mang Thị C, ông Mang T, bà Mang Thị N và bà Mang Thị Đ: ng Mang L, sinh năm 1962 - Địa ch : hu phố B, phường MN, thành phố P , t nh B nh hu n (Theo các văn bản ủy quyền ngày 14/8/2017 và ngày 29/8/2017) 10. ng Mang Văn N, sinh năm 1970 Địa ch : hu phố B, phường MN, thành phố P , t nh B nh hu n

- Bị đơn: Ông Nguy n Văn C, sinh năm 1953

Bà Nguy n hị M, sinh năm 1952 Cùng địa ch : hu phố B, phường MN, thành phố P , t nh B nh hu n Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ng Nguy n oài – Lu t sư Văn ph ng lu t sư số B thuộc Đoàn lu t sư t nh B

- Người kháng cáo: Nguyên đơn – bà Nguy n hị và bị đơn – ng Nguy n Văn C. i phiên t a có mặt ông Mang L, ng Mang Văn N, ng Nguy n Văn C, bà Nguy n hị M, Lu t sư Nguy n oài ; những người tham gia tố tụng c n l i vắng mặt.

NỘI UNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - ông Mang L trình bày: Năm 1976, ng Mang P và bà Nguy n hị nh n chuyển nhượng l i đất của một số người hác, phần đất này hiện đang tranh chấp với ng Nguy n Văn C. Khi nh n chuyển nhượng đất h ng đo đ c cụ thể. Đến năm 1979, ng Lương Chuẩn chiếm phần đất này sử dụng, năm 1984 vợ chồng ng P, bà iện đ i l i đất vườn dừa đã được a án quyết định buộc ng Lương Chuẩn trả l i cho ng Mang P vườn dừa, gồm có 118 c y, tọa l c t i iểu hu B, phường MN, thành phố P (trong quyết định h ng ghi diện tích đất).

Năm 1989, bà Nguy n hị đã tự ý l n chồng là ng Mang P và các con trong gia đ nh chuyển nhượng cho ng Nguy n Văn C với giá 12 ch vàng 24k.

Việc chuyển nhượng đất ch có bà Nguy n hị và ng Nguy n Văn C biết, c n ng Mang P h ng rõ. Đến hoảng năm 2000, ng C đem giấy tờ đất đến yêu cầu ng P ý, l c này gia đ nh ng mới biết sự việc nên đã làm đơn hiếu n i.

Khi a án giải quyết vụ án, ng C ác định giấy tờ mua bán đất là do ng Mang L ý thay ng Mang P. ng Mang L ác định h ng có viết giấy mua bán đất nào cho ng C, chữ viết trong tờ giấy “hồi c ng đất” có ác nh n của phường MN cũng h ng phải chữ viết của ng Mang L.

Nay, ng Mang L được bà ủy quyền tham gia tố tụng t i a; đồng thời ng Mang L là người đ i diện theo ủy quyền của những người ế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn yêu cầu a án hủy việc mua bán (chuyển nhượng) đất giữa mẹ ng là bà Nguy n hị và ng Nguy n Văn C; Yêu cầu vợ chồng ng C trả l i diện tích 7.488m2 đất vườn dừa tọa l c t i hu phố M, phường MN, thành phố P cho gia đ nh ng sử dụng, toàn bộ tài sản có trên đất, yêu cầu vợ chồng ng C tháo dỡ.

Riêng số vàng bà T đã nh n của ng C, ng L h ng có ý iến g , nếu a ử hoàn trả l i cho ng C bao nhiêu th ng L đồng ý trả bấy nhiêu.

Bị đơn - ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị M trình bày:

Ông nh n chuyển nhượng mảnh đất của vợ chồng ng Mang P vào năm 1989 với giá 12 ch vàng 24 , hi chuyển nhượng có vợ chồng ng P và con trai ng P (là ông Mang L), ng Mang L là người viết giấy bán và ý tên. ng P h ng ý tên vào giấy mua bán. S dĩ, hi mua đất có viết 02 tờ giấy tay: 01 giấy viết bán bằng tiền, 01 giấy viết bán bằng vàng, với mục đích giấy bằng tiền để đóng thuế cho Nhà nước. ng P có đưa cho ông C bản chính giấy chứng thư cấp quyền s hữu đất do chế độ cũ cấp cho ng Lê Vĩnh C1. Năm 1990, ng C y nhà, đến năm 1994, ng C đem giấy mua bán ra Ủy ban nh n d n phường MN ác nh n để ng làm thủ tục in đăng ý quyền sử dụng đất, do có chêch lệch về diện tích đất giữa đất chuyển nhượng và thêm diện tích phần hai hoang thêm, nên ng C đem giấy tờ vào cho vợ chồng ng P ý l i th ng P, bà h ng ý, năm 2002 ng P h i iện.

Năm 2007, a án nh n d n thành phố P

t ử sơ thẩm, đồng thời a án nh n d n t nh B nh hu n t ử ph c thẩm, bản án đã có hiệu lực pháp lu t, do v y ng Nguy n Văn C, bà Nguy n hị M đã đăng ý quyền sử dụng đất và đã được Ủy ban nh n d n thành phố P cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số AM 0336647 ngày 01/02/2008.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - ông Nguyễn Văn T tại cấp sơ thẩm trình bày: Cha mẹ ng nh n chuyển nhượng đất của vợ chồng ng Mang P và sử dụng ổn định từ năm 1989, l c nh n chuyển nhượng đất c n hoang sơ, gai lưỡi long, g đồi nhiều, cha mẹ ng cùng các anh em ng phải đứng ra hai hẩn mới có diện tích đất như ngày h m nay, những người ung quanh l u năm gần hu đất này đều biết. Nay, ng L yêu cầu cha mẹ ng phải trả l i 7.488m2 đất mà cha mẹ ng đang quản lý, sử dụng là h ng đ ng, v trong 7.488m2 đất cha mẹ ng nh n chuyển nhượng “hồi c ng đất” ch có 3.000m2 gia đ nh ng đã sinh ho t ổn định, 14 năm sau gia đ nh ng P mới h i iện, hi mà gia đ nh ng đem giấy tờ qua nhờ ý l i, phần diện tích đất c n l i là gia đ nh ng hai phá thêm, cho nên tranh chấp của gia đ nh ng Mang L là hoàn toàn v lý, ng h ng đồng ý yêu cầu của ng Mang L. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2014 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã quyết định:

- Áp dụng: khoản 7 Điều 25, hoản 1 Điều 33 Bộ lu t tố tụng d n sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011; khoản 2 Điều 122, Điều 127, Điều 137, Điều 697 Bộ lu t d n sự; Nghị quyết số 02/2004/NQ- Đ P ngày 10/8/2004 của a án nh n dân tối cao; Lu t Đất đai năm 2003; Nghị định 70/NĐ-CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí a án.

- Tuyên xử: Chấp nh n một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Nguy n hị và những người thừa ế quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ng Mang L, bà Mang hị Đ, bà Mang hị N, bà Mang hị C, bà Mang hị Ngọc N, ng Mang Văn N, bà Mang hị M, bà Mang hị Ngọc L, ng Mang , bà Mang hị N về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. iếp tục giao thửa đất số 12, tờ bản đồ số 30, theo giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số AM 033647 do Ủy ban nh n d n thành phố Phan hiết cấp ngày 01/02/2008, diện tích 7.488m2, tọa l c t i hu phố M, phường MN, thành phố P , t nh B nh hu n cho ng Nguy n Văn C, bà Nguy n hị M sử dụng, trên đất có tài sản gắn liền với đất trị giá 1.041.961.050đồng. ng Nguy n Văn C, bà Nguy n hị M phải hoàn trả l i cho bà Nguy n hị , ng Mang L, bà Mang hị Đ, bà Mang hị N, bà Mang hị C, bà Mang hị Ngọc N, ng Mang Văn N, bà Mang hị M, bà Mang hị Ngọc L, ng Mang , bà Mang hị N 2.400.000.000đồng. Bà Nguy n hị phải hoàn l i cho ng Nguy n Văn C, bà Nguy n hị M 2.400.000.000đồng. Kh ng chấp nh n yêu cầu của bà và những người ế thừa tố tụng của ng Mang P tranh chấp diện tích đất 4.488m2. Ngoài ra, bản án sơ thẩm c n tuyên án phí, lãi suất ch m trả do ch m thi hành án, trách nhiệm thi hành án và quyền háng cáo của các đương sự theo quy định pháp lu t. Ngày 05/5/2014, ng Nguy n Văn C háng cáo h ng đồng ý với bản án sơ thẩm.

Ngày 06/5/2014, bà Nguy n hị háng cáo h ng đồng ý với bản án d n sự sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 134/2017/DS-PT ngày 21 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã quyết định:

Chấp nh n một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Nguy n hị và những người thừa ế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn ng Mang P gồm: ng Mang L, bà Mang hị Đ, bà Mang hị N, bà Mang hị C, bà Mang hị Ngọc N, ng Mang Văn N, bà Mang hị M, bà Mang hị Ngọc L, ng Mang , bà Mang hị N về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

uyên bố giao dịch d n sự giữa bà Nguy n hị với ng Nguy n Văn C bị v hiệu.

iếp tục giao thửa đất số 12, tờ bản đồ số 30, theo Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số AM 033647 do Ủy ban nh n d n thành phố Phan hiết cấp ngày 01/02/2008, diện tích 7.488m2 tọa l c t i hu phố M, phường MN, thành phố P , t nh B nh hu n cho ng Nguy n Văn C, bà Nguy n hị M được quyền sử dụng; trên đất có tài sản trị giá 1.041.961.050đồng gắn liền với đất là tài sản thuộc quyền s hữu của ng Nguy n Văn C, bà Nguy n hị M.

Kh ng chấp nh n yêu cầu của bà và những người ế thừa tố tụng của ng Mang P, bà Nguy n hị tranh chấp diện tích đất 4.488m2.

Buộc nguyên đơn, do bà Nguy n hị và ng Mang P đã chết nên những người thừa ế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn gồm: ng Mang L, bà Mang hị Đ, bà Mang hị N, bà Mang hị C, bà Mang hị Ngọc N, ng Mang Văn N, bà Mang hị M, bà Mang hị Ngọc L, ng Mang , bà Mang hị N phải có trách nhiệm hoàn l i cho ng Nguy n Văn C, bà Nguy n hị M 12 ch (Mười hai chỉ) vàng 24k (là giá trị của việc giao dịch trước đ y) và số tiền 1.179.672.000đồng (Một tỷ, một trăm bảy mươi chín triệu, sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng), (là thiệt h i do hợp đồng v hiệu).

Bị đơn ng Nguy n Văn C, bà Nguy n hị M phải hoàn l i số tiền 2.400.000.000đồng (Hai tỷ, bốn trăm triệu đồng), (là số tiền giá trị của diện tích 3.000m2 đất) cho nguyên đơn do bà Nguy n hị và ng Mang P đã chết nên những người thừa ế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn gồm: ông Mang L, bà Mang hị Đ, bà Mang hị N, bà Mang hị C, bà Mang hị Ngọc N, ng Mang Văn N, bà Mang hị M, bà Mang hị Ngọc L, ng Mang , bà Mang hị N) được nh n số tiền này.

Ngoài ra, a án cấp ph c thẩm c n giải quyết về án phí.

Sau hi t ử ph c thẩm, vào ngày 20/12/2017, ng Nguy n Văn C có đơn đề nghị em t l i vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án d n sự ph c thẩm nêu trên. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 372/2018/DS-GĐT ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: ủy Bản án d n sự ph c thẩm số 134/2017/DS-P ngày 21 tháng 11 năm 2017 của a án nh n d n t nh B nh hu n và giao hồ sơ vụ án cho a án nh n d n t nh B nh hu n giải quyết ph c thẩm l i theo quy định pháp lu t. Vào ngày 14/02/2019, a án nh n d n t nh B nh hu n thụ lý l i vụ án theo tr nh tự ph c thẩm. i phiên t a ph c thẩm hôm nay: + Người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu h i iện và nội dung kháng cáo, đề nghị cấp ph c thẩm:

- ủy bản án sơ thẩm số 17/DS-ST ngày 23/4/2014;

- uyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/8/1989;

- Yêu cầu bị đơn tháo dỡ toàn bộ tài sản gắn liền trên đất và trả l i quyền sử dụng đất cho nguyên đơn. + Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị cấp ph c thẩm sửa án sơ thẩm, h ng chấp nh n toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn; uyên bị đơn h ng phải chịu án phí sơ thẩm và ph c thẩm. + Những người ế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn đều có ủy quyền cho ông Mang L; i phiên t a ph c thẩm hôm nay, ng Mang Lợi ác định những người này không có kháng cáo. + Đ i diện Viện iểm sát nh n d n t nh B nh hu n phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: a án cấp ph c thẩm đã thực hiện đ ng tr nh tự, thủ tục theo quy định của pháp lu t trong quá tr nh giải quyết vụ án.

- Về nội dung: Đề nghị căn cứ vào hoản 2 Điều 308 Bộ lu t tố tụng d n sự; Bác háng cáo của nguyên đơn, chấp nh n háng cáo của bị đơn; Sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: [1.1] Về việc t ử vắng mặt các đương sự: Vào ngày 14/8/2017 và ngày 29/8/2017, các ông, bà Mang hị Ngọc N, bà Mang hị M, bà Mang hị N, bà Mang hị Ngọc L, bà Mang hị C, ng Mang , bà Mang hị N và bà Mang hị Đ đã làm giấy ủy quyền cho ng Mang L tham gia tố tụng cho đến hi ết th c vụ án. i phiên t a h m nay, họ vắng mặt nhưng có mặt người đ i diện hợp pháp là ng Mang L, nên ội đồng t ử tiến hành t ử vụ án vắng mặt các ng, bà nói trên là đ ng theo quy định t i hoản 2 Điều 228 Bộ lu t tố tụng d n sự.

Về việc ác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự:

Vào ngày 27/02/2003, a án nh n d n thành phố Phan hiết thụ lý vụ án theo tr nh tự sơ thẩm lần 1 theo đơn h i iện của vợ chồng ng Mang P, bà Nguy n hị và ác định nguyên đơn là ng Mang P, bà Nguy n hị .

Ngày 26/7/2007, a án nh n d n t nh B nh hu n thụ lý theo tr nh tự ph c thẩm theo đơn háng cáo của nguyên đơn và bị đơn.

Sau hi t ử ph c thẩm lần 1, bị đơn ng Nguy n Văn C hiếu n i theo tr nh tự giám đốc thẩm.

i Quyết định giám đốc thẩm số 71/2011/DS-GĐ ngày 24/01/2011, Tòa d n sự a án nh n d n tối cao đã hủy cả hai bản án d n sự sơ thẩm và ph c thẩm; giao hồ sơ về cho a án nh n d n thành phố Phan hiết t ử sơ thẩm l i vụ án.

a án nh n d n thành phố Phan hiết thụ lý vụ án theo tr nh tự sơ thẩm lần 2 vào ngày 17/3/2011.

Quá tr nh thụ lý giải quyết l i theo tr nh tự sơ thẩm lần 2, vào ngày 27/3/2011, ng Mang P chết, nhưng hi t ử t i Bản án sơ thẩm số 17/DS-ST ngày 23/4/2014, Tòa án nhân dân thành phố Phan hiết ch ác định một m nh bà Nguy n hị là nguyên đơn, ng Mang L là người đ i diện theo ủy quyền của nguyên đơn, c n những người con hác của ng Mang P, bà Nguy n hị gồm các ng, bà Mang hị Ngọc N, bà Mang hị M, bà Mang hị N, bà Mang hị Ngọc L, bà Mang hị C, ng Mang , bà Mang hị N, bà Mang hị Đ và ng Mang Văn N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là h ng đ ng quy định. Đáng lý ra phải ác định nguyên đơn vẫn là ng Mang P và bà Nguy n hị , việc ng Mang P chết ngày 27/3/2011 phải căn cứ vào Điều 62 Bộ lu t tố tụng d n sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) để đưa các con của ng Mang P vào tham gia tố tụng với tư cách là người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, chứ h ng phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như cấp sơ thẩm ác định.

uy nhiên, thiếu sót này của cấp sơ thẩm h ng ảnh hư ng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. V họ cũng đã tham gia phiên t a và ủy quyền cho ng Mang L tham gia phiên t a, có cùng ý iến với nguyên đơn. Sau khi t ử sơ thẩm đã nh n bản án theo quy định của pháp lu t. Mặt hác, theo quy định t i Điều 61 Bộ lu t tố tụng d n sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), nay là Điều 73 Bộ lu t tố tụng d n sự năm 2015 th người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu tham gia tố tụng với bên nguyên đơn th có quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn theo quy định t i Điều 59 Bộ lu t tố tụng d n sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), nay là Điều 71 Bộ lu t tố tụng d n sự năm 2015.

Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án, vào ngày 11/9/2014, nguyên đơn bà Nguy n hị chết. Do đó, ội đồng t ử nh n thấy ch cần điều ch nh tư cách tham gia tố tụng của họ cho phù hợp với quy định t i Điều 62 Bộ lu t tố tụng d n sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011), nay là Điều 74 Bộ lu t tố tụng d n sự năm 2015; cụ thể: ác định nguyên đơn là ng Mang P (chết ngày 27/3/2011), bà Nguy n hị (chết ngày 11/9/2014); Người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là các con của nguyên đơn, gồm các ông, bà: Mang L, Mang hị Ngọc N, Mang hị M, Mang hị N, Mang Văn N, Mang hị Ngọc L, Mang hị C, Mang , Mang hị Đ và Mang hị N. [2] Về nội dung, theo lời tr nh bày của hai bên đương sự: [2.1] Phía nguyên đơn cho rằng diện tích 7.488m2 đất t i thửa số 12, tờ bản đồ số 30, tọa l c t i hu phố M, phường MN, thành phố P , là tài sản chung của vợ chồng ng Mang P, bà Nguy n hị . Năm 1989, bà tự ý chuyển nhượng diện tích đất nêu trên cho ng Nguy n Văn C, ông P và các con h ng biết. Đến năm 2000, ng P mới biết và ảy ra hiếu n i, tranh chấp. iện nay, gia đ nh ng C đang sử dụng diện tích đất này. Nguyên đơn h i ện yêu cầu hủy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và ng C; yêu cầu vợ chồng ng C tháo dỡ toàn bộ tài sản trên đất và trả l i thửa đất nêu trên. [2.2] Vợ chồng ng C, bà M cho rằng: Năm 1989, ng, bà có nh n chuyển nhượng quyền sử dụng 3.000m2 đất của vợ chồng bà , ng P với giá 12 ch vàng 24 . Sau đó, trong quá tr nh quản lý, sử dụng, ông, bà khai phá thêm 4.488m2 đất thành mảnh đất rộng 7.488m2 như hiện t i. Khi hai bên chuyển nhượng đất, ng P có biết. V ng P là người đưa cho ng C giấy Chứng thư cấp quyền s hữu do chế độ cũ cấp cho ng Lê Vĩnh C1 là chủ đất cũ và là người chuyển nhượng đất cho ng Mang M, sau đó ng Mang M chuyển nhượng đất l i cho vợ chồng ng Mang P. ai bên có l p giấy tờ tay gọi là “giấy hồi c ng đất” ghi nh n giao dịch. Bà có ý vào giấy và ng L là con ng P, bà , viết và ý thay ng P vào giấy này. Nay, ng C, bà M cho rằng trong 7.488m2 đất tranh chấp ch có 3.000m2 đất là ng, bà nh n chuyển nhượng của vợ chồng ng P, bà ; việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ng, bà và bà th ng P có biết, có tham gia giao dịch và đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên ng, bà h ng đồng ý với yêu cầu h i iện của bà T. [3] X t ý iến tr nh bày của hai bên đương sự, ội đồng t ử nh n thấy: [3.1] Về diện tích đất chuyển nhượng: heo giấy tờ về nguồn gốc đất của chế độ cũ cấp cho ông Lê Vĩnh C1 (là chủ đất cũ đã chuyển nhượng đất cho vợ chồng ng P, bà ) th vợ chồng ng Mang P ch có quyền sử dụng 3.000m2 đất, ngoài các giấy tờ trên th phía nguyên đơn không có giấy tờ nào hác để chứng minh đã chuyển nhượng cho bị đơn diện tích đất là 7.488m2. Ngoài ra, quá tr nh giải quyết vụ án, a án đã lấy lời hai của những người sống l u năm t i nơi có đất tranh chấp đều ác định diện tích đất dôi ra là do trong quá tr nh sử dụng, ng C đã hai phá thêm phần diện tích đất g , đồi, gai lưỡi long về phía Đ ng của thửa đất. a án cấp sơ thẩm đã tiến hành em t, thẩm định t i chỗ ác định đất tranh chấp có diện tích là 7.488m2. Do đó, a án cấp sơ thẩm đã ác định diện tích đất hai bên chuyển nhượng là 3.000m2/7.488m2 đất tranh chấp là hoàn toàn có căn cứ.

Quá tr nh giải quyết vụ án, bà thừa nh n vào năm 1989, bà đã chuyển nhượng diện tích đất nêu trên cho ng C. Ngay sau hi nh n chuyển nhượng năm 1989, ng C đã chặt bỏ toàn bộ c y dừa trên đất, đến năm 1990 gia đ nh ng C đã y dựng nhà iên cố và y l cá cơm trên đất này để inh doanh. rong hi đó, hoảng cách từ đất này đến nhà ng P không xa. V v y, lời hai của phía nguyên đơn cho rằng ng P h ng biết bà chuyển nhượng đất cho ng C là h ng có cơ s để chấp nh n.

Do đó, cần ác định việc chuyển nhượng đất giữa bà và ng C, sau hi chuyển nhượng, bà đã giao đất cho gia đ nh ng C và gia đ nh ng C đã sử dụng đất từ năm 1990, ng P biết và h ng có bất ỳ ý iến phản đối nào, tính đến thời điểm tranh chấp năm 2002 là hơn 10 năm. Ngoài ra, bà c n thừa nh n, tiền bán đất bà đã sử dụng vào mục đích chi phí cho gia đ nh. V v y, căn cứ vào Án lệ số 04/2016/AL được ội đồng hẩm phán a án nh n d n tối cao th ng qua và được c ng bố ngày 06/4/2016 th trường hợp này cần ác định ng P “đồng ý với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của bà T.

X t thấy, mặc dù giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và ng C vào năm 1989 thuộc thời ỳ nhà nước cấm chuyển nhượng đất dưới mọi hình thức. uy nhiên, do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và ng C đã được thực hiện, ngay sau hi nh n chuyển nhượng đất, gia đ nh ng C đã phát quang, y nhà iêng cố và l cá cơm trên đất để inh doanh. ơn nữa, chính sách pháp lu t về đất đai hiện hành đã cho ph p người d n được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngoài ra, hiện ông C đã được cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất. Do đó, căn cứ vào điểm b tiểu mục 2.2 mục 2 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ- Đ P ngày 10/8/2004 của ội đồng hẩm phán a án nh n d n tối cao cần c ng nh n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguy n hị và ng Nguy n Văn C, với diện tích chuyển nhượng là 3.000m2 đất như đã nh n định trên.

Đối với diện tích đất c n l i 4.488m2 trong số diện tích 7.488m2 đất tranh chấp, là do trong quá tr nh sử dụng diện tích 3.000m2 đất nh n chuyển nhượng, gia đ nh ng C đã hai hoang thêm. Phía nguyên đơn cho rằng diện tích đất này nằm trong diện tích đất bà đã chuyển nhượng cho ng C, nhưng h ng cung cấp được tài liệu, chứng cứ g chứng minh như nh n định t i mục [3.1] nêu trên, nên không có cơ s để ội đồng t ử chấp nh n.

ừ nh n định trên, ội đồng t ử nh n thấy háng cáo của nguyên đơn là h ng có cơ s để chấp nh n; háng cáo của bị đơn và ý iến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là có căn cứ nên chấp nh n như ý iến đề nghị của Kiểm sát viên, sửa bản án sơ thẩm, h ng chấp nh n toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn. [7] Về án phí: [7.1] Do háng cáo h ng được chấp nh n nên nguyên đơn và người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng phải chịu án phí d n sự ph c thẩm. Tuy nhiên, nguyên đơn thuộc trường hợp được mi n nộp tiền án phí theo quy định điểm đ hoản 1 Điều 12 và hoản 1 Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UB VQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban hường vụ Quốc hội. V v y, hoàn trả l i toàn bộ tiền t m ứng án phí cho nguyên đơn, do người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn đ i diện nh n. [7.2] Do háng cáo được chấp nh n nên bị đơn h ng phải chịu án phí d n sự ph c thẩm và được hoàn l i tiền t m ứng án phí ph c thẩm đã nộp theo quy định t i hoản 2 Điều 148 Bộ lu t tố tụng d n sự. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 2 Điều 228, hoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ lu t ố tụng d n sự; điểm đ hoản 1 Điều 12, hoản 1 Điều 48 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban hường vụ Quốc hội; Kh ng chấp nh n háng cáo của nguyên đơn và người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn; chấp nh n háng cáo của bị đơn, sửa Bản án d n sự sơ thẩm số 17/DS-S ngày 23/4/2014 của a án nh n d n thành phố Phan hiết;

- Áp dụng: điểm b tiểu mục 2.2 mục 2 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-Đ P ngày 10/8/2004 của ội đồng hẩm phán a án nh n d n tối cao; Án lệ số 04/2016/AL được ội đồng hẩm phán a án nh n d n tối cao th ng qua và được c ng bố ngày 06/4/2016;

- Tuyên xử: 1. Kh ng chấp nh n toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn – ông Mang P, bà Nguy n hị và người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, về việc: + Yêu cầu hủy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguy n hị và ng Nguy n Văn C ngày 04/8/1989, đối với diện tích 7.488m2 đất tọa l c t i hu phố M, phường MN, thành phố P , t nh B nh hu n (đất thuộc thửa số 12, t bản đồ số 30 theo Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số AM 033647 do UBND thành phố P cấp ngày 01/02/2008); + Buộc vợ chồng ng Nguy n Văn C, bà Nguy n hị M tháo dỡ toàn bộ tài sản trên diện tích 7.488m2 đất tọa l c t i hu phố M, phường MN, thành phố P , t nh B nh hu n (đất thuộc thửa số 12, tờ bản đồ số 30 theo Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số AM 033647 do UBND thành phố P cấp ngày 01/02/2008) và trả l i cho gia đ nh nguyên đơn diện tích đất này.

2. Về án phí:

2.1. oàn trả l i cho nguyên đơn – ng Mang P, bà Nguy n hị và người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, do ng Mang L đ i diện nh n:

+ 50.000đồng (Năm mươi nghìn đồng) tiền t m ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu ngày 27/02/2003 của Đội hi hành án thành phố Phan hiết.

+ 50.000đồng (Năm mươi nghìn đồng) tiền t m ứng án phí ph c thẩm đã nộp theo biên lai thu số 005750 ngày 16/7/2007 của Chi cục hi hành án d n sự thành phố Phan hiết.

+ 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền t m ứng án phí ph c thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000054 ngày 06/5/2014 của Chi cục hi hành án d n sự thành phố Phan hiết.

2.2. oàn trả l i cho ng Nguy n Văn C, bà Nguy n hị M:

+ 50.000đồng (Năm mươi nghìn đồng) tiền t m ứng án phí ph c thẩm đã nộp theo biên lai thu số 005757 ngày 16/7/2007 của Chi cục hi hành án d n sự thành phố Phan hiết.

+ 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền t m ứng án phí ph c thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0000049 ngày 05/5/2014 của Chi cục hi hành án d n sự thành phố Phan hiết.

3. Về chi phí em t, thẩm định t i chỗ và định giá tài sản: Nguyên đơn – ng Mang P, bà Nguy n hị và người ế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng phải chịu 1.000.000đồng (Một triệu đồng) tiền chi phí em t, thẩm định t i chỗ và định giá tài sản. Người đ i diện là ng Mang L đã nộp đủ theo biên lai thu ngày 09/7/2013 của a án nh n d n thành phố Phan hiết.

Bản án ph c thẩm có hiệu lực pháp lu t ể từ ngày tuyên án.

Nơi nh n:

Cỡ chữ