- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị X phạm tội Môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Lê Thị X ( tức L) đã phạm tội: “ Môi giới mại dâm”
- Căn cứ chính? Điều 328 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| -------------- Bản án số: 60/2018/HS-ST Ngày: 17- 5- 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH-THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh. Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Dương Xuân Đính
2. Bà Nguyễn Thanh Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Khoa- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Đoan Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 17/5/2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2018/HSST ngày 05/4/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/QĐXXST-HS ngày 04/5/2018 đối với bị cáo:
LÊ THỊ X (tức L), sinh năm 1987; Nơi cư trú: ĐC, TV, ML, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Ngọc Đ; Con bà Đinh Thị L; Có chồng là: Võ Ngọc B; Có 02 con, lớn sinh năm 2006; nhỏ sinh năm 2010; Danh chỉ bản số 126 ngày 03/02/2018 của Công an huyện ĐA; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giữ từ ngày 30.01.2018 đến ngày 08.02.2018; Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 30/01/2018, Đồn công an BTL- Công an huyện ĐA kiểm tra nhà nghỉ “ AP 3” thuộc CĐ, HB, ĐA, HN do chị Nguyễn Thanh T (sinh năm 1968) làm chủ, phát hiện tại phòng 601 và phòng 602 có 02 đôi nam nữ mua bán dâm. Cụ thể:
- Tại phòng 601:
+ Gái bán dâm: Vương Thị Ánh Ng, sinh năm: 1987; HKTT: ML, ĐM, ĐA, Hà Nội.
+ Khách mua dâm: Nguyễn Minh T, sinh năm: 1971; HKTT: ĐH, CK, TS, Bắc Ninh
- Tại phòng 602:
+Gái bán dâm: Nguyễn Thị D (Y), sinh năm: 1982; HKTT: HT, VT, KX, Thái Bình.
+ Khách mua dâm: Nguyễn Văn L, sinh năm: 1970; HKTT: ĐH, CK, TS, Bắc Ninh
Vật chứng tạm giữ:
Của Vương Thị Ánh Ng: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 màu đồng, lắp sim số thuê bao 0962364233; 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng)
Của Nguyễn Thị D: 01 điện thoại di động Nokia nhãn hiệu 110i, lắp sim số thuê bao 0969004102 và số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng)
Của Lê Thị X: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu xanh lắp sim số thuê bao 01666868295 và số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng)
Của anh Nguyễn Minh T: 01 điê ̣n thoa ̣i Nokia màu xanh, lắp sim số thuê bao: 0981654534.
Của anh Hà Văn Đ: 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, 01 giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự, 01 biên bản kiểm tra an toàn phòng cháy chữa cháy (bản phô tô) của Nhà nghỉ AP 3.
Công an huyện ĐA thu giữ toàn bộ vật chứng và đưa các đối tượng mua bán dâm về trụ sở để điều tra làm rõ.
Quá trình điều tra xác định:
Lê Thị X không có nghề nghiê ̣p ổn đi ̣nh nên nảy sinh ý định môi giới mại dâm để thu lợi bất chinh . X biết Nguyễn Thị D (tứ c Y) là gái bán dâm nên đặt vấn
́ đề khi nào có khách mua dâm thì X sẽ gọi D đi bán dâm và D đồng ý. X trực tiếp thỏa thuận giao dịch giá với khách mua dâm, thu 500.000 đồng/01 người/01 lần, trả cho gái bán dâm 350.000 đồng/01 ngườ i/01 lần, cắt la ̣i cho X 150.000 đồng/01 lần là tiền công môi giới khách mua dâm.
Qua quan hê ̣ xa hô ̣̃ i, anh Nguyễn Minh T (sinh năm 1971; trú tại: ĐH, CK, TS, Bắc Ninh) làm quen và biết X môi giớ i ma ̣i dâm nên xin số điê ̣n thoa ̣i để liên la ̣c.
Khoảng 12 giờ 00 ngày 30/01/2017, anh T cùng anh Nguyễn Văn L (sinh năm 1970; ở cùng thôn Đ H, CK, TS, BN) và Nguyễn Thế Tr (sinh năm 1985; trú tại: LQ, XN, ĐA, Hà Nội) đi ăn nhâ ̣u ta ̣i B , KC, ĐA, Hà Nội và rủ nhau đi mua dâm. Khi đó, T nói biết X có thể điều được gái bán dâm. T sử dụng điện thoại di động số thuê bao 0981654534 gọi đến số thuê bao 01666868295 của X, bảo X điều cho 02 gái bán dâm và X đồng ý. T hẹn gặp X tại quán café “Sakura” ở thôn CĐ, HB, ĐA, Hà Nội.
Sau khi nhận điện thoại của anh T, X gọi điện thoại cho D bảo D rủ thêm bạn đi bán dâm cho khách của X và D đồng ý. D rủ Vương Thi ̣ Á nh Ng đi bán dâm cùng và Ng đồng ý . Sau đó , D và Ng thuê xe taxi từ ML, Hà Nội đến cổng UBND xã KC đón X đến quán cà phê “Sakura” tại CĐ, HB gă ̣p nhóm của T.
Tại quán cà phê, T đă ̣t vấn đề vớ i X cho D và Ng đi bán dâm cho T và L vớ i giá 500.000 đồng/ngườ i, tiền công môi giớ i của X là 600.000 đồng. Sau đó, T đưa cho X 1.000.000 đồng tiền mua dâm, X cầm tiền đưa lại cho D và Ng mỗi ngườ i 500.000 đồng. T tiếp tục đưa cho X 600.000đồng và nói với X “ đây là tiền công em gọi hai người đến”. Lúc này X bảo Ng đi cùng T, bảo D đi cùng L đến nhà nghỉ để quan hệ tình dục. D gọi xe taxi và cùng Ng, T, L đến khách sạn “AP 3” tại CĐ, HB để mua bán dâm. Khi đến nơi anh T thuê 02 phòng 601 và 602. Anh T và chị Ng lên phòng 601, còn anh L và chị D lên phòng 602, khi T và Ng, L và D đang quan hệ tình dục thì bị Công an huyện ĐA kiểm tra bắt giữ. Còn X và Tr bị Công an ĐA triệu tập đến để điều tra làm rõ.
Ngoài ra, ngày 27/01/2018 Lê Thị X còn môi giới Nguyễn Thi ̣ D bán dâm cho Lê Việt H (sinh năm 1981; trú tại: ĐH, CK, TS, Bắc Ninh) và X trực tiếp bán dâm cho Nguyễn Minh T tại nhà ng hỉ “AP 3” với giá 500.000 đồng/người/lần. Anh T đưa cho X và D mỗi người 500.000 đồng tiền bán dâm và đưa riêng cho X 200.000 đồng tiền công môi giới. Trên đường về chị D cắt lại cho X 150.000 đồng tiền công môi giới.
Tại Cơ quan điều tra bị can X khai nhận hành vi phạm tội của mình nêu trên và phù hợp với lời khai của khách mua dâm và gái bán dâm có trong hồ sơ. Do vậy đủ cơ sở kết luận X có hành vi môi giới mại dâm nhiều lần và nhiều người.
Đối với Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị D và Vương Thị Ánh Ng có hành vi mua, bán dâm. Ngày 30/01/2018, đồn Công an BTL ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với Lê Việt H, xác minh tại Công an phường CK, TS, Bắc Ninh không có công dân nào có lí lịch nêu trên nên không có căn cứ xử lý.
Đối với chị Nguyễn Thanh T và anh Hà Văn Đ không biết bị can X môi giới mại dâm; không biết các anh T, L, chị D, Ng và X thuê phòng để mua bán dâm. Quá trình anh Đ làm thủ tục cho khách lưu trú theo đúng quy định của pháp luật nên không đề cập xử lý.
Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7; 01 điện thoại di động Nokia nhãn hiệu 110i; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280; 01 điê ̣n thoa ̣i Nokia màu xanh thu giữ của X, D, Ng và T là điện thoại dùng để liên lạc mua bán dâm nên chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với số tiền 1.600.000 đồng thu giữ của X, D và Ng là tiền thu lời bất chính nên chuyển Tòa án nhân dân huyện ĐA giải quyết theo thẩm quyền.
Bản Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 04/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA đã truy tố Lê Thị X về tội Môi giới mại dâm theo điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Thị X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Lê Thị X từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù .
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì bị cáo không có việc làm ổn định.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung công: 1.600.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7; 01 điện thoại di động Nokia nhãn hiệu 110i; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280; 01 điê ̣n thoa ̣i Nokia màu xanh.
- Truy thu số tiền bị cáo thu lời bất chính do môi giới bán dâm ngày 27/01/2018 là 350.000đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị X khai nhận toàn bộ nội dung vụ việc phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và bản Cáo trạng của Viện kiểm sát. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14h30’ ngày 30/01/2018 tại khách sạn “AP 3” (ở CĐ, HB, ĐA, Hà Nội) Lê Thị X có hành vi môi giới cho Ng và D đi bán dâm cho T và L bị Công an huyện ĐA kiểm tra bắt giữ. Ngoài ra, ngày 27/01/2018 tại khách sạn “AP 3” (tại CĐ, HB, ĐA) Lê Thị X cũng có hành vi môi giới cho D bán dâm cho H.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Môi giới mại dâm vi pha ̣m điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước, gây mất trật tự trị an trong khu vực. Mại dâm đã xâm phạm đến đạo đức xã hội, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, sức khoẻ con người, hạnh phúc gia đình và nó còn là nguyên nhân làm lây lan các loại vi rút gây bệnh truyền nhiễm như nhóm bệnh hoa liễu (giang mai, lậu…), đặc biệt là bệnh HIV/AIDS, nhưng do hám lợi mà bị cáo vẫn cố tình phạm tội.
Do vậy phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nữa mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo nói riêng và để phục vụ công tác phòng, chống tội phạm nói chung.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đó là: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp với kết quả nghị án của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đánh giá về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, không có ai khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không phải xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 4 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, nhưng xét thấy bị cáo không có thu nhập do không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.
Về số tiền bị cáo thu lời bất chính do môi giới mại dâm và bán dâm ngày 27/01/2018 lẽ ra phải truy thu, nhưng xét hoàn cảnh bị cáo khó khăn, con nhỏ, số tiền thu lời bất chính đều đã tiêu hết nên không cần truy thu lại.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung công: 1.600.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7; 01 điện thoại di động Nokia nhãn hiệu 110i; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280; 01 điê ̣n thoa ̣i Nokia màu xanh.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo pháp luật quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Lê Thị X ( tức L) đã phạm tội: “ Môi giới mại dâm”
Căn cứ vào:
- Điểm d, đ khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Xử phạt: Lê Thị X 03 ( ba) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30.01.2018 đến ngày 08.02.2018.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu sung công: 1.600.000 đồng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7; 01 điện thoại di động Nokia nhãn hiệu 110i; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280; 01 điê ̣n thoa ̣i Nokia màu xanh (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ĐA và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA ngày 04/4/2018 và Giấy nộp tiền vào tài khoản tại Kho bạc nhà nước ĐA của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐA ngày 04/4/2018).
- Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
Án xử công khai, sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - VKS huyện Đ.A. - Công an huyện Đ.A. - Chi cục THADS huyện Đ.A. - TAND thành phố Hà Nội - Bị cáo. - Người tham gia tố tụng (vắng mặt). - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Kim Oanh |