vanban.org

Bản án 60/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 27/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Ngọc Ng phạm tội "Trộm cắp tài sản";

Xử phạt: Huỳnh Thị Ngọc Ng 01(một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo Huỳnh Thị Ngọc Ng được tính kể từ ngày tạm giam 26/8/2018 (ngày hai mươi sáu tháng tám năm hai nghìn không trăm mười tám). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị Ngọc Ng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Ngọc Ng phạm tội "Trộm cắp tài sản";
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 60/2018/HS-ST
Ngày: 27/ 9/ 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Thủy

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2018, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2018 đối với:

Bị cáo: Huỳnh Thị Ngọc Ng, sinh năm 1959; nơi sinh: TB - AG; quê quán: TB - AG; nơi cư trú (ĐKHKTT) và chỗ ở hiện nay: tổ 06, ấp ĐT, xã TS, huyện TB, tỉnh AG; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 01/12; giới tính: nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: đạo phật; con ông Huỳnh Văn D (chết) và bà Trương Thị A (chết); cH Lê Phước Th (sinh năm 1966); con: Phạm Thị Ngọc H, Phạm Văn L.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/8/2018 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Lý Thị Kim H, sinh năm 1972; địa chỉ: số 448, đường BT, khóm CL8, phường CPB, thành phố CĐ, tỉnh AG; vắng mặt.

Người làm chứng:

- Trần Thị D

- Lê Tấn Ph.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Huỳnh Thị Ngọc Ng bị Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 8 giờ ngày 26/8/2018 bị cáo đến chợ phường CPB thuộc đường số 5, tổ 13, khóm CL7, phường CPB, tìm người đi chợ có sơ hở để trộm tài sản, bị cáo thấy Lý Thị Kim H mặc áo khoác màu vàng kẻ sọc vừa nghe điện thoại di động xong bỏ vào túi áo khoác bên phải không kéo khóa lại, ngồi xuống lựa dép trước sạp dép của Trần Thị D, bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm giả vờ đi đến bên phải H ngồi xuống hỏi mua dép, lợi dụng H sơ hở lén lút dùng tay móc túi áo khoác lấy trộm điện thoại di động hiệu Vivo V7 model 1718 cầm trên tay trái thì bị Lê Tấn Ph phát hiện bắt quả tang giải giao về trụ sở Công an phường CPB, thành phố CĐ.

Ngày 29/8/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố CĐ ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với bị cáo Huỳnh Thị Ngọc Ng.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an thành phố Châu Đốc, bị cáo Huỳnh Thị Ngọc Ng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng.

Bị hại Lý Thị Kim H khai: Khoảng hơn 8 giờ ngày 26/8/2018, trước khi ngồi lựa dép bà có gọi điện thoại rồi bỏ điện thoại vào túi phải áo khoác đang mặc, cùng lúc có người phụ nữ mặc áo khoác, đeo khẩu trang và đội nón rộng vành đến và ngồi bên phải bà cũng hỏi mua dép. Trong lúc đang lựa dép thì bà nghe tiếng tri hô của ông Ph và nhìn thấy ông Ph cầm tay trái của bị cáo, trên tay bị cáo còn cầm điện thoại của bà. Sau khi kiểm tra thì bà biết bị cáo đã lấy trộm điện thoại của bà. Bà H đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Người làm chứng ông Lê Tấn Ph khai: Khoảng 8 giờ ngày 26/8/2018, tại chợ phường CPB, ông phát hiện bị cáo có hành vi dùng tay trái lấy điện thoại di động màn hình cảm ứng từ túi áo khoác bên phải của bà H nên ông đã nắm lấy tay bị cáo và tri hô. Sau đó, bà H kiểm tra thì phát hiện bị mất điện thoại nên đã cùng tôi và bị cáo kiểm tra, kết quả, đúng điện thoại bị cáo lấy trộm là điện thoại của bà H. Bị cáo có thừa nhận đã lấy trộm điện thoại của bà H;

Người làm chứng bà Trần Thị D khai:Vào khoảng 8 giờ ngày 26/8/2018, bà H có đến sạp dép của bà để mua dép. Một lát sau, bị cáo đến ngồi cạnh bên phải của bà H cũng ngồi hỏi mua dép. Ngay lúc đó, ông Ph nắm lấy tay bị cáo và tri hô bị cáo đã trộm điện thoại của bà H. Tại đây, bà H, ông Phúc và bị cáo đã kiểm tra đúng điện thoại bị cáo lấy trộm là điện thoại của bà H. Bị cáo thừa nhận có lấy trộm điện thoại của bà H.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo V7 model 1718, CPU 1.8GHz, Ram 4Gb, màn hình cảm ứng, vỏ máy màu vàng đồng kèm theo ốp lung bằng nhựa dẻo, viền ốp lưng có đính hạt đá màu trắng có gắn sim số 0987384323 đã qua sử dụng (đã giao trả cho người bị hại).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, loại nắp bật, model 3710a-1, đã qua sử dụng; 01 (một) nón nữ rộng vành màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) khẩu trang nữ, màu vàng sọc đen; tiền Việt Nam 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng).

Theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 242/KL-ĐG ngày 28/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo V7, model 1718, CPU 1.8GHz, Ram 4Gb, màn hình cảm ứng, vỏ máy màu vàng đồng, kèm theo 01 ốp lưng nhựa dẻo viền ốp lưng có dính nhiều hạt đá màu trắng, đã qua sử dụng, giá trị còn lại 3.000.000 đồng.

Quyết định truy tố số 70/QĐ-VKS-CĐ ngày 11 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị Ngọc Ng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Ng khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bị hại giống như lời khai thể hiện tại Cơ quan Điều tra và thu giữ vật chứng như nội dung quyết định truy tố thể hiện. Bị cáo yêu cầu được nhận lại điện thoại hiệu Nokia, loại nắp bật, model 3710a-1và 1.700.000 đồng.

Chủ tọa công bố Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 242/KL-ĐG ngày 28/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự; lời khai của bị hại, người làm chứng vắng mặt.

Phát biểu quan điểm luận tội, Kiểm sát viên giữ quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Thị Ngọc Ng về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị trao trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, loại nắp bật, model 3710a-1, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng) do không liên quan đến sự việc phạm tội; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) nón nữ rộng vành màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) khẩu trang nữ, màu vàng sọc đen không còn giá trị sử dụng;

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý theo Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến khác.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Huỳnh Thị Ngọc Ng bị Công an nhân dân thành phố CĐ khởi tố về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại chợ phường CPB thuộc phường CPB, thành phố CĐ, tỉnh AG nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố CĐ.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an nhân dân thành phố CĐ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố CĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục; vụ án được áp dụng theo thủ tục rút gọn đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Sự vắng mặt của bị hại bà Lý Thị Kim H; người làm chứng: ông Lê Tấn Ph, bà Trần Thị D đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này.

- Về nội dung:

Hành vi phạm tội:

Bị cáo khai nhận, khoảng 8 giờ ngày 26/8/2018, tại chợ phường CPB, thuộc khóm Châu Long 7, phường CPB, thành phố Châu Đốc, bị cáo phát hiện Lý Thị Kim H đang ngồi mua dép, trong túi áo khoác bên phải của bà H (không kéo khóa) có để một điện thoại di động. Bị cáo đã đến ngồi bên phải bà H, giả vờ hỏi mua dép. Lợi dụng lúc bà H sơ hở, bị cáo dùng các ngón tay trỏ, giữ và ngón cái của tay trái kẹp lấy điện thoại hiệu OPPO, màn hình cảm ứng trong túi áo khoác của bà H. Ngay lúc đó, ông Lê Tấn Ph phát hiện và nắm lấy tay bị cáo, tri hô. Sau khi phát hiện bị mất điện thoại, bị cáo cùng bà H, ông Phúc kiểm tra điện thoại, xác định điện thoại trên tay bị cáo là của bà H thì bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp của mình. Mục đích trộm cắp tài sản là để có tiền tiêu xài cá nhân và trị bệnh.

Theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 242/KL-ĐG ngày 28/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo V7, model 1718, CPU 1.8GHz, Ram 4Gb, màn hình cảm ứng, vỏ máy màu vàng đồng, kèm theo 01 ốp lưng nhựa dẻo viền ốp lưng có dính nhiều hạt đá màu trắng, đã qua sử dụng, giá trị còn lại 3.000.000 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 26/8/2018 do Công an phường CPB lập; phù hợp với lời khai của bị hại vào ngày 26/8/2018, bị mất trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màn hình cảm ứng; lời khai của ông Lê Tấn Ph về việc ngày 26/8/2018 chứng kiến bị cáo có hành vi lấy trộm điện thoại di động từ túi áo khoác của bà H; lời khai của và Trần Thị D về việc ngày 26/8/2018 có chứng kiến ông Lê Tấn Ph bắt quả tang bị cáo có hành vi lấy trộm điện thoại di động của bà H và bị cáo đã thừa nhận hành vi trộm cắp của mình; phù hợp với Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 242/KL-ĐG ngày 28/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tài sản bị cáo chiếm đoạt đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hình phạt:

Về hình phạt chính: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, nhân thân xấu. Xét, phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội trong thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có việc làm. Xét, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo V7, model 1718, CPU 1.8GHz, Ram 4Gb, màn hình cảm ứng, vỏ máy màu vàng đồng, kèm theo 01 ốp lưng nhựa dẻo viền ốp lưng có dính nhiều hạt đá màu trắng, có gắn sim số 0987.384.323, đã qua sử dụng; đã giao trả cho bà Lý Thị Kim H theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 05/9/2018 là phù hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) nón nữ rộng vành màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) khẩu trang nữ, màu vàng sọc đen thu giữ của bị cáo do không còn giá trị sử dụng.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, loại nắp bật, model 3710a-1, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn) đồng là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, xét, giao trả cho bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trách nhiệm dân sự: Bà Lý Thị Kim H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

(Theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Ngọc Ng phạm tội "Trộm cắp tài sản";

Xử phạt: Huỳnh Thị Ngọc Ng 01(một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo Huỳnh Thị Ngọc Ng được tính kể từ ngày tạm giam 26/8/2018 (ngày hai mươi sáu tháng tám năm hai nghìn không trăm mười tám).

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Giao trả cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, loại nắp bật, model 3710a-1, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 1.700.000 đồng (một triệu bảy trăm nghìn đồng) (Giấy nộp tiền số 070918 D363.70 ngày 07/9/2018).

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nón nữ rộng vành màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) khẩu trang nữ, màu vàng sọc đen.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra – công an thành phố Châu Đốc và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc ngày 07/9/2018).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Huỳnh Thị Ngọc Ng phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ