vanban.org

Bản án 60/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng Tuyên án 14/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc T phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: Lê Quốc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585 và 590 Bộ luật dân sự. Xử: Buộc Lê Quốc T có nghĩa vụ bồi thường cho chị Hoàng Thị Kim P số tiền 20.000.000 đồng (trong đó: tổn thất về ti… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc T phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2018/HS-ST
Ngày 14-11-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tán Nghị.

2. Ông Nguyễn Đình Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Quang – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2018/QĐXXST-HS ngày 02/11/2018 đối với bị cáo:

Lê Quốc T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 01/01/2000 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Học lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê K, sinh năm: 1963 và bà Trần Thị C, sinh năm 1969; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời bị hại: Chị Hoàng Thị Kim P, sinh ngày: 25/8/2000. Trú tại: Thôn T Nghĩa, xã Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Nguyễn Thanh H1, sinh ngày: 05/03/2001. Trú tại: Thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Người giám hộ cho anh Nguyễn Thanh H1: Ông Nguyễn Thanh H2(là cha), sinh năm: 1968 và bà Trần Thị Ngọc L (là mẹ), sinh năm: 1971. Cùng trú tại: Thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Ông Lê K, sinh năm: 1963. Trú tại: Thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Ông Hoàng Thanh H3, sinh năm: 1965 và bà Vũ Thị Đ, sinh năm: 1967. Cùng trú tại: Tổ 1 Thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1958. Trú tại: Thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Ngƣời làm chứng:

Anh Lê Võ Anh H4, sinh ngày 05/11/2002. Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

Người giám hộ cho anh Lê Võ Anh H4: Ông Lê Văn T (là cha), sinh năm: 1977 và bà Võ Thị B (là mẹ), sinh năm: 1977. Cùng trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

Anh Ngô Duy V, sinh năm: 1996. Trú tại: Thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 18/8/2018, Lê Quốc T điều khiển xe mô tô 43K1-40080 chở theo Lê Võ Anh H4 đi trên đường ĐT 602. Khi đi đến đoạn trước Nhà họp thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng thì phát hiện Nguyễn Thanh H1 đang điều khiển xe mô tô chở sau chị Hoàng Thị Kim P đi ngược chiều, do cho rằng chị P là người yêu của mình đã phản bội và đi theo người con trai khác nên T liền điều khiển xe quay đầu lại chạy đuổi theo, ép sát xe mô tô của H1 vào lề đường rồi dừng xe chạy vào quán cháo vịt bên cạnh lấy 01 con dao chạy ra chém vào người của anh H1, anh H1 né được và bỏ chạy vào nhà người dân trốn, thấy anh H1 chạy thoát nên T liền quay lại vung dao chém liên tiếp 04 nhát vào người của chị P gây thương tích làm chị P ngã xuống đường. Sau khi gây án, T đã vứt con dao lại tại hiện trường rồi điều khiển xe mô tô 43K1-40080 chở Lê Võ Anh H4 bỏ chạy.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 233 ngày 12/9/2018 của T tâm giám định pháp y TP Đà Nẵng, xác định chị Hoàng Thị Kim P bị thương tích: Mẻ đoạn 1/3 giữa xương cánh tay trái; bàn tay phải bị đứt thần kinh giữa, đứt gân gấp ngón I, II. Tỷ lệ thương tích hiện tại là 22%.

Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKSHHV ngày 31/10/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Quốc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lê Quốc T đề nghị HĐXX tuyên bố Lê Quốc T phạm tội “Cố ý gây thương tích” và áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Quốc T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX tuyên buộc bị cáo Lê Quốc T bồi thường cho chị Hoàng Thị Kim P số tiền 20.000.000 đồng, trong đó tổn thất về tinh thần 10.000.000 đồng và tổn thất mất việc làm 10.000.000 đồng.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 43 cm, cán dao bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30 cm.

Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Lê Quốc T thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đồng ý bồi thường cho chị Hoàng Thị Kim P số tiền 20.000.000 đồng, trong đó tổn thất về tinh thần 10.000.000 đồng và tổn thất mất việc làm 10.000.000 đồng.

Người bị hại chị Hoàng Thị Kim P đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, trong đó tổn thất về tinh thần 10.000.000 đồng và tổn thất mất việc làm 10.000.000 đồng.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hòa Vang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo Lê Quốc T tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Vào lúc 22 giờ ngày 18/8/2018, tại đường ĐT 602, đoạn trước Nhà họp thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, khi thấy anh H1 chở chị P đi thì Lê Quốc T ép xe anh H, chị P vào sát lề đường không nói gì mà đã sử dụng dao chém 04 nhát vào người chị P gây thương tích với tỷ lệ 22%. Hành vi của Lê Quốc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Lê Quốc T là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Lê Quốc T là người trưởng thành, có đủ nhận thức về hành vi của mình nhưng bị cáo xem thường pháp luật. Mặc dù giữa Lê Quốc T với anh H1 và chị P không có mâu thuẩn gì nhưng khi thấy anh Nguyễn Thanh H1 chở chị Hoàng Thị Kim P (là bạn gái của T) thì Lê Quốc T đã ép xe anh H1 vào lề đường không hỏi han gì mà đã xử sự bằng bạo lực, thể hiện sự hung hãn, côn đồ là đi tìm dao là hung khí nguy hiểm chém vào người của anh H1, anh H1 né được và bỏ chạy thoát nên T liền quay lại chém liên tiếp 04 nhát vào người của chị P gây thương tích mẻ đoạn 1/3 giữa xương cánh tay trái; bàn tay phải bị đứt thần kinh giữa, đứt gân gấp ngón I, II, tỷ lệ 22%. Bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến sức khoẻ của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn công cộng tại địa phương. Do vậy, bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của mình gây ra cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục đối với bị cáo.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Quốc T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại, tại phiên tòa hôm nay người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, HĐXX sẽ áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra Lê Quốc T đã bồi thường cho bị hại là chị Hoàng Thị Kim P số tiền 4.000.000đ. Tại phiên tòa hôm nay người bị hại yêu cầu bị cáo Lê Quốc T phải bồi thường cho chị P số tiền 20.000.000 đồng, trong đó tổn thất về tinh thần là 10.000.000 đồng và tổn thất mất việc làm 10.000.000 đồng. HĐXX xét thấy những chi phí chị P yêu cầu là hợp lý, bị cáo cũng thống nhất bồi thường thêm cho chị P số tiền này nên HĐXX xử buộc bị cáo Lê Quốc T có nghĩa vụ bồi thường cho chị Hoàng Thị Kim P số tiền 20.000.000 đồng.

Đối với anh Nguyễn Thanh H1 bị T vung dao chém nhưng anh H1 né được và bỏ chạy thoát. Trong quá trình điều tra, anh H1 xác định mình không bị thương tích gì nên không yêu cầu bồi thường nên HĐXX không có cơ sở xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Đối với tang vật của vụ án là 01 con dao dài 43 cm, cán dao bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30 cm là tài sản của bà Nguyễn Thị T. Trong quá trình điều tra, bà T đã từ chối nhận lại con dao này nên HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy.

Vật chứng trên, hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2018.

Đối với xe mô tô 43K1-40080 thuộc sở hữu của ông Lê K là cha ruột Lê Quốc T, ông K cho con trai của mình mượn đi lại. Việc T sử dụng chiếc xe làm phương tiện phạm tội ông K không biết nên không đề cập xử lý là có cơ sở.

Đối với Lê Võ Anh H4 là người đi cùng Lê Quốc T, xét thấy H4 không liên quan đến việc phạm tội của Lê Quốc T nên không đề cập xử lý đối với H4 là có sở.

Xét những đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tại phiên tòa hôm nay là có cơ sở, HĐXX nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 1.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51Bộ luật hình sự .

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc T phạm tội "Cố ý gây thương tích".

2. Xử phạt: Lê Quốc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585 và 590 Bộ luật dân sự. Xử: Buộc Lê Quốc T có nghĩa vụ bồi thường cho chị Hoàng Thị Kim P số tiền 20.000.000 đồng (trong đó: tổn thất về tinh thần là 10.000.000 đồng và tổn thất mất việc làm 10.000.000 đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 43 cm, cán dao bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 30 cm.

Vật chứng trên, hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/11/2018.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Bị cáo Lê Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về thời hạn kháng cáo: Báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ