- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NGÂN HÀNG N1 - NGUYỄN VĂN K"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
- Căn cứ chính? Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN Về việc ban hành Quy chế cho…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2018/DS-ST Ngày: 21-9-2018 V/v Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Phước Tâm.
2. Bà Hồ Thị Mai Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 21 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 387/2018/TLST-DS, ngày 21 tháng 6 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2018/QĐXXST-DS, ngày 16 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2018/QĐST-DS, ngày 04 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N1.
Địa chỉ: số 18 Trần Hữu D, khu đô thị Mỹ Đ, Từ L1, Hà N2.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hà Thúc N3 - Giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh huyện Cao L2, là người đại diện theo ủy quyền (Quyết định về việc ủy quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án số 510/QĐ-HĐTV-PC, ngày 19/6/2014).
Bị đơn:
Nguyễn Văn K, sinh năm 1978.
Nguyễn Thị Thúy N4, sinh năm 1978.
Địa chỉ: ấp 4, xã Tân Hội T, huyện Cao L2, tỉnh Đồng Tháp.
(Ông Ngộ có mặt; Ông K, bà N4 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/5/2018, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, ông Hà Thúc N3 là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 27/6/2012, Ngân hàng N1 (sau đây gọi tắt là NHNo) cho ông Nguyễn Văn K vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 0200212.26/HĐTD, nội dung cụ thể như sau:
- Số tiền vay: 200.000.000 đồng.
- Thời hạn vay: 36 tháng kể từ ngày 27/6/2012.
- Mục đích sử dụng tiền vay: xây dựng nhà ở.
- Lãi suất: 1,42%/tháng.
- Lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn là 2,13%/tháng.
- Biện pháp bảo đảm: Ông K và bà N4 đã thế chấp tài sản cho NHNo là quyền sử dụng đất thuộc thửa 1207, tờ bản đồ số 10, diện tích 4.955m2, loại đất trồng lúa, đất tọa lạc tại ấp 4, xã Tân Hội T, huyện Cao L2, được Ủy ban nhân dân huyện Cao L2 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 634743 cho hộ ông Nguyễn Văn K ngày 22/12/2008, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 26, ngày 25/6/2012 (Hợp đồng được công chứng cùng ngày và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Cao L2 chứng nhận việc thế chấp quyền sử dụng đất như trên vào ngày 26/6/2012) và Phụ lục hợp đồng số 26/01/PLHĐ, ngày 01/7/2013.
Tính đến ngày 30/6/2013, ông K đã trả được số tiền vốn là 80.000.000 đồng và trả đủ tiền lãi. Tuy nhiên, đến nay là đã hết hạn hợp đồng, ông K và bà N4 không trả thêm được khoản nào. Nay NHNo yêu cầu:
- Ông K và bà N4 liên đới trả cho NHNo số nợ vốn và lãi còn lại của Hợp đồng tín dụng số 0200212.26/HĐTD tính từ ngày 30/6/2013 đến ngày 21/9/2018 là 201.732.986 đồng, trong đó nợ vốn là 120.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 60.451.667 đồng, nợ lãi quá hạn 21.281.319 đồng.
- Yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 22/9/2018 đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng.
- Trường hợp ông K và bà N4 thanh toán hết nợ thì NHNo sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản thế chấp.
- Trường hợp ông K và bà N4 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì NHNo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá tài sản đang thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên để thu hồi nợ.
Các tài liệu, chứng cứ của vụ án:
- Hợp đồng tín dụng số 0200212.26/HĐTD, ngày 27/6/2012 (bản sao);
- Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 26, ngày 25/6/2012 và Phụ lục hợp đồng số 26/01/PLHĐ, ngày 01/7/2013 (bản sao);
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 634743, do Ủy ban nhân dân huyện Cao Lãnh cấp cho hộ ông Nguyễn Văn K ngày 22/12/2008 (bản sao);
- Bảng kê tính lãi ngày 21/9/2018 (bản chính);
- Giấy xác nhận cư trú ngày 16/8/2018 (bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của NHNo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là về hợp đồng tín dụng, địa chỉ của bị đơn tại huyện Cao L2 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh quy định tại khoản 3, Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng các bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và cũng không có người đại diện tham gia phiên tòa. Căn cứ quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của NHNo đối với hợp đồng tín dụng, yêu cầu ông K và bà N4 liên đới trả cho NHNo số nợ vốn và lãi tính từ ngày 30/6/2013 đến ngày 21/9/2018 là 201.732.986 đồng (trong đó nợ vốn là 120.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 60.451.667 đồng, nợ lãi quá hạn 21.281.319 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 22/9/2018 đến khi trả xong nợ, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0200212.26/HĐTD, ngày 27/6/2012.
Hội đồng xét xử xét thấy: NHNo có đủ chứng cứ chứng minh ngày 27/6/2012, NHNo và ông K có ký Hợp đồng tín dụng số 0200212.26/HĐTD. Nội dung hợp đồng thể hiện rõ thỏa thuận của hai bên về số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất, mục đích sử dụng tiền vay, biện pháp bảo đảm trả nợ. Ngày 28/6/2012, NHNo đã giao số tiền vay cho phía ông K. Đến ngày 30/6/2013, phía ông K đã trả đủ tiền lãi và trả được số tiền vốn là 80.000.000 đồng. Từ ngày 30/6/2013 đến nay thì thời hạn vay đã hết nhưng phía ông K không trả thêm khoản nợ vốn và lãi nào nên đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ đối với NHNo.
Quá trình giải quyết vụ án, phía ông K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của tòa án nhưng không phản đối những tình tiết, yêu cầu mà phía NHNo đưa ra, không tham gia phiên họp, hòa giải và phiên tòa để trình bày ý kiến nên những chứng cứ, yêu cầu của NHNo thuộc trường hợp không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2, Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, nay NHNo yêu cầu phía ông K trả số nợ vốn và lãi tính đến ngày xét xử với số tiền 201.732.986 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 22/9/2018 đến khi trả xong nợ, theo mức lãi suất đã thỏa thuận là phù hợp quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN, ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước).
Về người có nghĩa vụ trả nợ, xét thấy: Theo Hợp đồng tín dụng thì chỉ có ông K là người vay tiền tuy nhiên đây là khoản nợ chung của vợ chồng ông K và bà N4. Bởi vì, theo Giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn nhu cầu đời sống ngày 25/6/2012 thì ông K và vợ là bà N4 cùng đề nghị vay số tiền 200.000.000 đồng. Ông K là chủ hộ nên sẽ làm đại diện ký hợp đồng. Mục đích vay tiền của ông K cũng là để xây dựng nhà ở. Đồng thời trước đó, bà N4 cũng thống nhất thế chấp quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông K để đảm bảo trả nợ cho khoản vay này. Do vậy, nay NHNo yêu cầu ông K và bà N4 có trách nhiệm liên đới trả nợ là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu khởi kiện của NHNo về hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, cụ thể: Trường hợp ông K và bà N4 thanh toán hết nợ thì NHNo sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản thế chấp; Trường hợp ông K và bà N4 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì NHNo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá tài sản đang thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để thu hồi nợ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 26, ngày 25/6/2012 và Phụ lục hợp đồng số 26/01/PLHĐ, ngày 01/7/2013, nội dung ông K và bà N4 thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa 1207, tờ bản đồ số 10, diện tích 4.955m2, loại đất trồng lúa, đất tọa lạc tại ấp 4, xã Tân Hội T, huyện Cao L2, được Ủy ban nhân dân huyện Cao L2 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 634743 cho hộ ông Nguyễn Văn K ngày 22/12/2008 cho NHNo để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cho khoản nợ vay còn lại. Hợp đồng đã được công chứng và được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Cao L2 chứng nhận việc thế chấp quyền sử dụng đất. Căn cứ quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh nên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 26, ngày 25/6/2011 và Phụ lục hợp đồng số 26/01/PLHĐ, ngày 01/7/2013 có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện. Do vậy, nay NHNo yêu cầu: Trường hợp ông K và bà N4 thanh toán hết nợ thì NHNo sẽ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản thế chấp; Trường hợp ông K và bà N4 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì NHNo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá tài sản đang thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để thu hồi nợ là phù hợp thỏa thuận của hợp đồng, có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu của NHNo.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí và trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1, Điều 6 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 26, 35, 39, 92, 147 và 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 463 Bộ luật dân sự 2015;
- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN, ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước);
- Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1.
2. Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị Thúy N4 có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng N1 số nợ vốn và lãi là 201.732.986 đồng (hai trăm lẻ một triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn chín trăm tám mươi sáu đồng) (trong đó nợ vốn là 120.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 60.451.667 đồng, nợ lãi quá hạn 21.281.319 đồng) và tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 22/9/2018 đến khi trả xong nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0200212.26/HĐTD, ngày 27/6/2012.
3. Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu của Ngân hàng N1, nếu ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị Thúy N4 trả hết nợ thì Ngân hàng N1 có trách nhiệm trả lại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 26, ngày 25/6/2012 và Phụ lục hợp đồng số 26/01/PLHĐ, ngày 01/7/2013 cho ông K và bà N4.
4. Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu của Ngân hàng N1, nếu ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị Thúy N4 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền bán đấu giá tài sản đang thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 26, ngày 25/6/2012 và Phụ lục hợp đồng số 26/01/PLHĐ, ngày 01/7/2013 để thu hồi nợ, cụ thể là quyền sử dụng đất thuộc thửa 1207, tờ bản đồ số 10, diện tích 4.955m2, loại đất trồng lúa, đất tọa lạc tại ấp 4, xã Tân Hội T, huyện Cao L2, được Ủy ban nhân dân huyện Cao L2 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 634743 cho hộ ông Nguyễn Văn K ngày 22/12/2008.
5. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị Thúy N4 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm 10.087.000 đồng (Mười triệu tám mươi bảy nghìn đồng).
- Ngân hàng N1 không phải chịu án phí nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.877.000 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000322, ngày 19/6/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND H. Cao L2; - CC THADS H. Cao L2; - TAND tỉnh ĐT; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thị Phƣơng Thảo |