vanban.org

Bản án 60/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội Tuyên án 15/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử phạt: Nguyễn Hữu H1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 28/6/2017. Tịch thu xung quy Nhà nước: 01điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã cũ có số IMEI: 354407060769113; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar mà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚC THỌ, TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------
Bản án số: 60/2017/HSST
Ngày: 15 - 9 - 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Bích Loan

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Hải

Ông Nguyễn Xuân Chức

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Uyến - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thuỳ- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở UBND xã TG, huyện PT, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2017/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1965 tại huyện ĐP, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn 4, xã TC, huyện ĐP, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; con ông Nguyễn Hữu L (đã chết) và bà Đặng Thị Đ (đã chết); Vợ Kim Thị T1, sinh năm 1968, có 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2017 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Tạ Văn T1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Cụm 6, xã V, huyện P, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Anh Tạ Văn D, sinh năm 1975; Địa chỉ: Cụm 6, xã V, huyện P, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Chị Đoàn Thị H2, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn 1, xã T1, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1979; Địa chỉ: Cụm 3, xã T2, huyện P, Thành phố Hà Nội; vắng mặt.

+ Chị Kim Thị T3, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn 4, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội truy tố về

hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 11 giờ 00 ngày 28/6/2017, Tạ Văn T1 gọi điện thoại cho Nguyễn Hữu H1 hỏi mua 500.000đ ma túy để sử dụng. H1 đồng ý, và hẹn gặp nhau ở đoạn đường gần trường cấp III V, thuộc Cụm 6, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội để giao dịch mua bán ma túy. Sau đó, T sang nhà Tạ Văn D là anh trai của T để rủ đi mua ma túy cùng, D đồng ý. Sau khi hẹn với T1 thì H1 lấy xe máy xuống khu vực ao làng xã T, huyện Đ gặp một người đàn ông lạ mặt mua 03 (ba) gói ma túy với giá 300.000 đồng. Sau đó, H đi về trường cấp III V như đã hẹn. Khi tới điểm hẹn, H1 gặp T1 và D, sau đó, H1 cầm 03 gói ma túy và T1 lấy ra 490.000đồng. Hai bên đang trao đổi mua bán thì bị tổ công tác của Công an huyện Phúc Thọ phối hợp cùng Công an xã V đi tuần tra phát hiện. H liền buông từ tay trái 03 gói ma túy gói trong túi nilon trắng xuống ven đường và bỏ chạy thì bị tổ công tác giữ lại cùng với T1 và D. Khi được hỏi 03 gói giấy vừa thả xuống đường là gì, H trả lời: “Là ma túy (Heroin) mang đi bán cho T”. Tổ công tác tuyên bố bắt quả tang H về hành vi bán trái phép chất ma túy, và đưa các đối tượng cùng vật chứng về trụ sở UBND xã V để lập biên bản.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 03 (ba) gói nhỏ chất bột màu trắng, bên ngoài được gói bằng giấy thu giữ của Nguyễn Hữu H.

- 01 (một) điện thoại di động Iphone màu trắng, bên trong có chứa 01 sim số thuê bao 01666970551.

- 01 (một) ví da màu nâu đã cũ, trong có 478.000đ, và 01 đăng ký xe máy BKS: 29X3 - 271.72 mang tên Hoàng Văn Q

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Ware màu đỏ đã cũ, BKS: 33P6 - 0982 thu giữ của Nguyễn Hữu H.

- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Ware màu xanh đã cũ, BKS: 29V3 - 117.07 thu giữ của T1 và D.

- Số tiền 490.000 đồng (Bốn trăm chín mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành thu giữ của Tạ Văn T1.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar màu trắng đỏ đã cũ, có số hiệu B219 thu của Tạ Văn T, bên trong có chứa 01 sim số thuê bao 0984.417.183.

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở, đồ vật, thư tín đối với Nguyễn Hữu H, tại Thôn 4, xã TT, huyện ĐP, thành phố Hà Nội. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra phát hiện và thu giữ một số vật chứng liên quan đến vụ án gồm:

- 01 (một) gói nhỏ được gói bằng giấy, bên trong có chứa chất bột màu trắng để trong hộp nhựa tròn cất tại tủ thuốc của gia đình H1. (H khai nhận là Heroin để bản thân sử dụng).

- 01 (một) dao lam, nhãn hiệu CROMA thu giữ tại bàn thờ của gia đình H1 (H1 khai nhận sử dụng để chia ma túy).

Sau khi thu giữ vật chứng, Cơ quan CSĐT, Công an huyện Phúc Thọ tiến hành trưng cầu giám định vật chứng đã thu giữ:

Tại bản kết luận giám định số 4554/PC54 ngày 02/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Vật chứng thu giữ của Nguyễn Hữu H1 khi bị bắt quả tang, ký hiệu mẫu số 01 gồm: Chất bột màu trắng bên trong 03 (ba) gói giấy là ma túy loại Heroin có trọng lượng: 0,183 gam;

- Vật chứng thu giữ khi khám xét nhà ở của Nguyễn Hữu H1, ký hiệu mẫu số 02 gồm: Chất bột màu trắng bên trong 01(một) gói giấy có trọng lượng: 0,072 gam là ma túy loại Heroin; 01 (một) dao lam có dính ma túy loại Heroin.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu H1 đã khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 28/6/2017, Tạ Văn T1 gọi điện thoại cho H1 hỏi mua 500.000đ tiền ma túy, H1 đồng ý và hẹn T1 ra đoạn đường gần trường cấp 3 V, xã V, huyện P để bán ma túy cho T1. Sau đó, H1 đi xe máy đến khu vực ao làng xã T, huyện Đ gặp một người đàn ông lạ mặt hỏi mua 300.000đ ma túy, người đàn ông này cầm tiền và chỉ cho H1 chỗ cất dấu 03 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, H1 cầm 03 gói ma túy đến chỗ hẹn T1. Tại đây, H1 chưa nhận tiền của T1 và H1 đang định giao ma túy cho T1 thì phát hiện Công an đi đến nên H1 đã buông bỏ 3 gói ma túy xuống ven đường và định bỏ chạy thì bị bắt và thu giữ vật chứng. Sau đó, cơ quan điều tra khám xét nơi ở của bị cáo còn thu giữ 01 gói Heroin và 01 dao lam có dính ma túy. Nguồn gốc 01 gói ma túy bị thu giữ tại nhà là do bị cáo mua của một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ thường đứng ở khu vực đường vắng thuộc xã T, huyện Đ.

Tại bản cáo trạng số 55/CT- VKS ngày 31 tháng 8 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Hữu H1 về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H1 từ 24 đến 27 tháng tù. Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ vật chứng là chất ma tuý đã thu giữ; tịch thu sung quĩ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã cũ thu giữ của H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar màu trắng đỏ đã cũ và số tiền 490.000đ thu của Tạ Văn T1. Trả lại cho Nguyễn Hữu H1 01 ví da màu nâu đã cũ cùng số tiền 478.000đ. Về án phí bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Hữu H tại phiên toà khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ đã truy tố. Mặt khác, lời khai của bị cáo cũng phù hợp với lời khai của Tạ Văn T, Tạ Văn D cùng các tài liệu điều tra khác và được chứng minh bằng các vật chứng đã được Cơ quan điều tra thu giữ, Kết luận giám định số 4554/PC54 ngày 02/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội.

Với những căn cứ trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vì nghiện ma tuý nên Nguyễn Hữu H1 đã có hành vi mua ma tuý của một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực ao làng T, Đ và tại khu vực xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội để sử dụng và bán cho các con nghiện. Ngày 28/6/2017 Nguyễn Hữu H1 mang 03 gói ma tuý đều chứa thành phần Herôin, có trọng lượng 0,183 để bán trái phép cho Tạ Văn T1 và Tạ Văn D với giá tiền là 500.000đ tại Cụm 6, xã V, huyện P, thành phố Hà Nội. Khi Nguyễn Hữu H1 định đưa 03 gói ma túy cho Tạ Văn T1 và T1 định đưa tiền cho H1 thì bị tổ công tác của Công an huyện Phúc Thọ phát hiện bắt giữ và thu giữ vật chứng. Khám xét nơi ở của Nguyễn Hữu H1 ở Thôn 4, xã T, huyện Đ, cơ quan điều tra còn thu giữ 01 gói Heroin, trọng lượng 0,027gam và 01 dao lam có dính ma túy loại Heroin.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Hữu H1 đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Hữu H1 về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi đó đã vi phạm đến việc quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý và chất gây nghiện. Mặt khác, hành vi đó còn gây mất trật tự trị an xã hội. Ma tuý là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự, không những làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người mà còn làm ảnh hưởng đến kinh tế và hạnh phúc của nhiều gia đình, trong đó có bản thân, gia đình bị cáo. Chính vì tác hại của ma tuý mà Nhà nước và nhân dân ta đang ra sức vận động, tuyên truyền nhằm làm giảm bớt và xoá bỏ tệ nạn này. Bị cáo cũng đã nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân và đối với xã hội, nhưng bị cáo không tu dưỡng rèn luyện, mà để thoả mãn nhu cầu của mình và vì hám lợi nên bị cáo đã có hành vi bán ma tuý cho người khác. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cũng áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét bị cáo là người nghiện ma tuý, không có khả năng và điều kiện về kinh tế để thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo qui đinh tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Đối với người thanh niên mà bị cáo H1 khai mua ma tuý ở khu vực ao làng xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội và ở khu vực đường vắng xã T, huyện Đ. Do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra không xác định được, vì vậy không có căn cứ xử lý.

Đối với Tạ Văn T1 là người mua ma túy của H1 để sử dụng và Tạ Văn D được T1 rủ đi mua ma túy cùng, tuy nhiên trong quá trình mua bán, T1 chưa kịp đưa tiền và nhận 03 gói ma túy từ H1, thì bị công an phát hiện, bắt giữ. Vì vậy chưa đủ căn cứ xác định T1, D phạm tội Tàng trữ trái trái phép chất ma túy, nên cơ quan điều tra Công an huyện Phúc Thọ ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T1 và D bằng hình thức Cảnh cáo, đồng thời giao cho gia đình và chính quyền địa phương đưa vào quản lý giáo dục là phù hợp.

Đối với: 01 xe máy nhãn hiệu Ware màu đỏ đã cũ, BKS: 33P6 - 0982, thu giữ của Nguyễn Hữu H1. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là của bà Đoàn Thị H2, sinh năm 1968, ở Thôn 1, xã T, Đ, thành phố Hà Nội. Bà H2 không biết H1 mượn xe để đi mua bán ma túy vào ngày 28/6/2017. Ngày 01/7/2017 bà H2 làm đơn xin lại tài sản là chiếc xe máy nêu trên.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Ware màu xanh đã cũ, BKS: 29V3 - 117.07, thu giữ của T và D. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là của bà Nguyễn Vũ T2 ở Cụm 3, xã T, huyện P, thành phố Hà Nội. Bà T2 không biết việc T1 và D sử dụng xe đi mua ma túy. Ngày 05/7/2017 bà T có đơn xin lại tài sản là chiếc xe nêu trên.

Đối với 01 đăng ký xe máy BKS: 29X3 - 271.72 mang tên Hoàng Văn Q, H1 khai nhận là của vợ mình là Kim Thị T3. Quá trình điều tra xác định, giấy đăng ký trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Kim Thị T3. Ngày 26/7/2017, chị T3 có đơn xin lại giấy đăng ký trên.

Ngày 28/7/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 44, trả lại cho bà Đoàn Thị H2, bà Nguyễn Vũ T2 02 chiếc xe máy trên và trả lại cho chị Kim Thị T3 Giấy đăng ký xe máy BKS: 29X3 - 271.72. Các chủ sở hữu đã nhận lại tài sản của mình và không có ý kiến, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ: 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong chứa mẫu vật chứng, bên ngoài bì thư có chữ ký của giám định viên phòng PC 54 và chữ ký của Nguyễn Hữu H1 và Tạ Văn T1 (góc phải bì thư ký hiệu M1); 01 phong bì thư niêm phong dán kín bên trong chứa mẫu vật chứng, bên ngoài bì thư có chữ ký của giám định viên phòng PC54 và chữ ký của Nguyễn Hữu H1 (góc phải bì thư ký hiệu M2); 01 hộp nhựa hình trụ màu xanh trắng, bên ngoài có nhãn XYLITOL.Vật chứng này không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ. 01điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã cũ có số IMEI: 354407060769113 thu giữ của Nguyễn Hữu H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar màu trắng đỏ đã cũ có số hiệu B219 và số tiền 490.000đ thu giữ của Tạ Văn T, do có liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu xung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 ví da màu nâu đã cũ và số tiền 478.000đ. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định là tài sản hợp pháp của Nguyễn Hữu H1, không liên quan đến hành vi phạm tội của H1 nên cần trả lại cho Nguyễn Hữu H1.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu H1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 của Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Xử phạt: Nguyễn Hữu H1 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 28/6/2017.

- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ chất ma tuý được đựng trong 02 phong bì thư do Công an thành phố Hà Nội niêm phong và 01 hộp nhựa hình trụ màu xanh trắng.

Tịch thu xung quy Nhà nước: 01điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã cũ có số IMEI: 354407060769113; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobiistar màu trắng đỏ đã cũ có số hiệu B219 và số tiền 490.000đ (Bốn trăm chín mươi nghìn đồng). Trả lại cho Nguyễn Hữu H 01 ví da màu nâu đã cũ và số tiền 478.000đ (Bốn trăm bảy mươi tám nghìn đồng). Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/9/2017 giữa Công an huyện Phúc Thọ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Số tiền được nộp vào tài khoản theo Giấy nộp tiền ngày 01/9/2017 của Kho bạc Nhà nước huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội).

Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án

Bị cáo Nguyễn Hữu H1 phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 231, Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyền kháng cáo của bị cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./

Cỡ chữ