vanban.org

Bản án 60/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Tuyên án 06/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG NHÉ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2017/HSST
Ngày 06/ 9/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lò Văn Phốn.

2. Ông Thào A Tủa.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Nhung.

Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tham gia phiên tòa:

Ông Lê Xuân Chiến: Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, mở phiên tòa xét xử, công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 64/2017/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2017.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T. (Tên gọi khác: Nguyễn Sỹ T).

Sinh năm 1992.

Nơi sinh: Xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

Nơi ĐKHKTT: Bản Mường Nhé, xã Mường Nhé, Mường Nhé - Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ văn hóa: 9/12.

Dân tộc: Thái. Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Nguyễn Sỹ B (đã chết) và con bà Pờ Thị P.

Bị cáo Nguyễn Văn T chưa có vợ, con.

Gia đì nh bị cá o có 02 anh em ruột, bị cáo là thứ 02 trong gia đì nh.

Tiền sự: Có 01; Tiền án: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 25 tháng 5 năm 2017. Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố về hành vi phạm tội như sau.

Vào khoảng 16 giờ ngày 25 tháng 5 năm 2017, bị cáo Nguyễn Văn Th bắt xe khách xuống bản Co Lót 1, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé thì gặp người phụ nữ dân tộc Xạ Phang, không biết tên, tuổi địa chỉ. Bị cáo Nguyễn Văn T đã mua Hê rô in với số tiền là 600.000 VND bà ta đưa cho bị cáo một gói nhỏ hê rô in, mua bán xong bà ta đi đâu không biết, mục đích để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ ngày 25 tháng 5 năm 2017 bị cáo Nguyễn Văn T bị tổ công tác Đồn biên phòng Mường Nhé phát hiện và bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.

Ngày 27 tháng 5 năm 2017 Cơ quan cả nh sá t điề u tra Công an huyệ n Mườ ng Nhé, đã lậ p biên bả n mở niêm phong , xác đị nh trọ ng lượ ng vậ t chứ ng , thu đượ c của bị cáo Nguyễn Văn T là: 0,57gam đồ ng thờ i l ấy đi 0,04 gam là m mẫ u vậ t gử i giám định chất ma túy. Số cò n lạ i là : 0,53 gam.

Bản kết luận giám đị nh số : 508/GĐ – PC 54 ngày 24 tháng 6 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Bi ên kế t luậ n : Mẫ u vật gử i đế n giá m đị nh thu đượ c của Nguyễn Văn T là Hê rô in. Số mẫ u vậ t 0,04 gam gử i giá m đị nh không hoà n lạ i theo quy đị nh c ủa pháp luật. Tổng trọng lượng vật chứng thu được là 0,57 gam là Hê rô in.

Bản cáo trạng số : 49/QĐ – VKS - HS ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Viện kiể m sát nhân dân huyệ n Mườ ng Nhé truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy đị nh tạ i khoản 1 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự .

Đạ i diệ n Viện kiể m sát thực hành quyền công tố, tại phiên tòa, lờ i luậ n tộ i giữ nguyên quan điể m truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử.

Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.

Áp dụng khoản 1 Điề u 194; điể m p khoản 1 Điều 46 Bộ luậ t Hình sự năm 1999. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T: 18 tháng đến 24 tháng tù.

Không áp dụng khoản 5 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự , hình phạt bổ sung là phạt tiề n đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Áp dụng Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng Hình sự. Tịch thu vật chứng tiêu hủ y theo quy đị nh pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T không tranh luậ n gì , về nộ i dung bả n luậ n tộ i, cũng như cáo trạng củ a đạ i diệ n Việ n kiể m sá t.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY:

Qua cuộ c thẩ m vấ n công khai tại phiên tòa và lời khai nhậ n của bị cáo Nguyễn Văn T, tại cơ quan điều tra, hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Vào hồi 17 giờ ngày 25 tháng 5 năm 2017 bị cáo Nguyễn Văn T mang trên người gói hê rô in ở tại bản Co Lót, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Mường Nhé phát hiện và bắt quả tang hành vi tàng trữ 0,57 gam Hê rô in với mụ c đí ch để sử dụng.

Bị cáo Nguyễn Văn T có đủ năng lực chịu trách nhiệ m hình sự, biế t rõ “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” là trái quy đị nh củ a phá p luậ t sẽ bị trừ ng trị , nghiêm minh.

Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát n hân dân huyệ n Mườ ng Nhé truy tố về tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma tú y” quy đị nh tạ i khoản 1 Điều 194 Bộ luậ t Hì nh sự , là hoàn toàn đúng ngườ i, đú ng tộ i và đú ng quy đị nh củ a phá p luậ t.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hính sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T là nghiêm trọ ng, nguy hiể m cho xã hộ i , xâm hạ i đế n chí nh sá ch độ c quyề n , quản lý của Nhà nước về các chất ma túy . Đồng thờ i ả nh hưở ng đế n trậ t tự , an toàn xã hội tại vùng sâu, vùng xa biên giớ i. Bị cáo Nguyễn Văn T lẽ ra phải làm gương cho mọi người, noi theo học tập.

Xét về nhân thân bị cáo Nguy ễn Văn T sinh ra và l ớn lên ở xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, học hết lớp 9/12 ở nhà phụ giúp gia đình. Ngày 14 tháng 7 năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc chấp hành xong trở về địa phương làm ăn sinh sống. Bị cáo Nguyễn Văn T có nhận thức rất rõ, về tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng đến kinh tế gia đình.

Trong qúa trình điều tra , truy tố , xét xử bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai bá o, ăn năn hối cải về hành vi của mình đó là tình tiết giảm nhẹ t rách nhiệm hình sự theo quy định tại điể m p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t Hì nh sự . Bị cáo Nguyễn Văn T là người dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa nên nhận thức pháp luật còn hạn chế.

Xét thấy cần ph ải cá ch ly bị cáo Nguyễn Văn T ra khỏ i đờ i số ng xã hộ i , mộ t thờ i gian nhấ t đị nh, để cải tạo, trở thà nh ngườ i có í ch đồ ng thờ i cũ ng răn đe, phòng ngừ a chung trong quầ n chú ng nhân dân và nhữ ng ai đang có ý đị nh thự c hiệ n hà nh vi phạm tộ i như bị cá o Nguyễn Văn T bị pháp luật trừng trị, nghiêm minh.

Tại phiên tò a; bị cáo Nguyễn Văn T đề nghị Hội đồng xét xử , xem xé t giả m nhẹ hình phạt cho bị cá o , lý do gia đình gặp nhiều khó khăn. Hộ i đồ ng xé t xử , sẽ xem xét, khi lượ ng hì nh phạ t đố i vớ i bị cá o.

Căn cứ khoản 5 Điề u 194 Bộ luậ t Hình sự , bị cáo Nguyễn Văn T còn bị hình phạt bổ sung là phạt tiền; Hộ i đồ ng xé t xử , xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo Nguyễn Văn T còn gặp nhiều khó khăn nên không áp dụng.

Xét thấy đối với người phụ nữ dân tộc Xạ phang bán Hê rô in cho bị cáo. Cơ quan điều tra không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu nên không đủ cơ sở, để xác minh làm rõ. Nên Viện kiểm sát không truy tố; Do vậy Hội đồng xét xử, không xem xét trong vụ án.

Về vật chứng vụ án: Áp dụ ng Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủ y 0,53 gam Hê rô in.

Về án phí : Căn cứ Điề u 99 Bộ luậ t tố tụ ng Hì nh sự ; Điề u 23 Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về á n phí , lệ phí Tòa á n. Bị cáo Nguyễn Văn T thuộc diện hộ nghèo và có đơn nên không phải chịu án phí theo quy đị nh củ a phá p luậ t.

Vì các lẽ trên:

QUYẾ T ĐỊ NH:

1.Tuyên bố bị cá o: Nguyễn Văn T ( Tên gọi khác: Nguyễn Sỹ T) phạm tộ i “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điề u 194; điểm p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999. Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/ QH 14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Áp dụng khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T: 20 (Hai mươi) tháng tù. Thờ i hạ n tù tí nh t ừ ngày bắt tạ m giữ ngà y 25 tháng 5 năm 2017.

2 .Về xƣ̉ lý vậ t chƣ́ ng : Áp dụng điểm c khoản 1 Điề u 41 Bộ luậ t Hì nh sự ; điểm a khoản 2 Điề u 76 Bộ luậ t tố tụ ng Hì nh sự :

- Tịch thu tiêu hủ y : 0,53 gam Hê rô in đã niêm phon g là vật chứng vụ án Nguyễn Văn T. Theo biên bả n bà n giao giữ a Công an huyệ n Mườ ng Nhé và Chi cục thi hành án dân sự huyện Mườ ng Nhé ngà y 16 tháng 8 năm 2017.

3. Về á n phí : Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điề u 12 Nghị Quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về á n phí, lệ phí Tò a á n. Miễn á n phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn T.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cá o. Bị cáo Nguyễn Văn T đượ c quyề n kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngà y tuyên á n.

Cỡ chữ