- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Bá Thành H _ k1 Đ178 BLHS 2015 (sđ, bs năm 2017) - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Bá Thành H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2017/HS-ST Ngày: 16-11-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Tạo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Phi;
2. Ông Lý Thanh Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Thái Văn Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2017/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2017/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Bá Thành H, sinh năm 1987, tại Thanh Hóa. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 4, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi tạm trú: Tổ 10, ấp L, xã N, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; con ông Lê Bá Đ, sinh năm 1939 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952; chưa có vợ và con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 09/7/2017 đến ngày 18/7/2017 được thay thế bằng biện pháp lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1980. HKTT: Ấp V, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
2. Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1978. HKTT: Ấp V, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại (ông S): Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1980. HKTT: Ấp V, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương (theo văn bản ủy quyền ngày 05/9/2017). Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng:
1. NLC1. Có mặt.
2. NLC2. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Bá Thành H là chủ cửa hàng Điện máy H tại ấp L, xã N, huyện B, tỉnh Bình Dương. Đầu năm 2017, Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1980 ngụ tại ấp V, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương đến cửa hàng H để mua trả góp một cái máy giặt hiệu Samsung 7,2 kg với giá 6.349.000 đồng (sáu triệu ba trăm bốn mươi chín ngàn đồng) theo hợp đồng và bà H1 đã trả trước 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Sau đó, bà H1 trả góp được 2 tháng với số tiền là 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng). Đến tháng 4/2017, bà H1 tiếp tục đến cửa hàng H mua một cái tivi TCL 55 inch với giá 18.900.000 đồng (mười tám triệu chín trăm ngàn đồng) theo hình thức trả góp có hợp đồng và bà H1 trả trước 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Tuy nhiên, sau khi mua cái tivi thì bà H1 đã không trả góp cho cửa hàng H như trong hợp đồng đã thỏa thuận và H đã gọi điện thoại yêu cầu bà H1 trả góp nhưng bà H1 không thực hiện.
Sáng ngày 09/7/2017, Lê Bá Thành H điều khiển xe mô tô chở NLC1 - Là nhân viên của H đi từ huyện C đến cửa hàng H tại xã L. Tại đây, H kêu NLC2 - Là nhân viên bán hàng cho H tại cửa hàng ở xã N đi cùng với H, NLC1 vẽ sơ đồ nhà của khách hàng mua trả góp và đến nhà bà H1 để thu tiền trả góp (H chở NLC1 bằng xe mô tô biển số 59T1-818.57, NLC2 đi một mình bằng xe mô tô biển số 36B5-302.09). Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, H, NLC1 và NLC2 đến nhà bà Nguyễn Thị Hồng H1 để thu tiền trả góp cái máy giặt và cái tivi TCL 55 inch. Tại đây, H gặp bà H1 trước cửa nhà, H hỏi: “Sao chị hứa với em là mùng 7 đến trả tiền sao chị không trả?”, bà H1 trả lời: “Giờ chị không có tiền để vài bữa nữa có chị trả”. H nói: “Vậy tôi thu máy giặt và tivi về”, bà H1 đồng ý và dẫn H xuống nhà sau chỗ máy giặt để H lấy máy giặt về như thỏa thuận trong hợp đồng. Lúc này H hỏi: “Cái tivi của tôi đâu?”, bà H1 trả lời: “Tao cho mẹ tao rồi, có gì tao kêu bả đem xuống trả”, H nói tiếp: “Mẹ bà ở đâu để tôi lên lấy?”, bà H1 trả lời: “Ở Bình Phước”. H nói tiếp: “Bà cho địa chỉ cụ thể và số điện thoại tôi lên lấy”, bà H1 trả lời: “Tao không biết!”. Lúc này hai bên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, H nói: “Bà có tin là tôi đập cái máy giặt của tôi không?”, bà H1 trả lời: “Của mày, mày đập đi tao khỏi trả tiền”. Lúc này H kêu NLC1 lấy cho H cục gạch nhưng NLC1 không muốn H đập tài sản nên nói là không có. H nhìn thấy trên đầu tủ Gacmanre nhà bà H1 có cây búa bằng sắt và một ống sắt tròn nên H đến lấy cầm trên tay (tay phải cầm búa, tay trái cầm ống sắt) rồi quay sang dùng búa đập vào mặt trên cái máy giặt Samsung gây hư hỏng, rồi đi thẳng lên nhà trên. Khi đi ngang qua tủ đựng quần áo của gia đình bà H1 dựng sát vách đường lên xuống thì H dùng búa đập một cái vào kính tủ làm bể kính, H bước lên phòng khách thấy Nguyễn Ngọc S, sinh năm: 1978 là chồng của bà H1, H hỏi: “Cái tivi của tao đâu?”. S thấy H cầm búa nên sợ, trả lời: “Nó mua tôi không biết!” và bỏ ra ngoài. H tiếp tục dùng búa đập vào một cái tivi Toshiba 32 inch, một cái đầu thu kỹ thuật số K+, một cái đầu đĩa hiệu Calistar, một cái amply hiệu Calistar, một cái đèn cạo mủ, một cái máy quạt đứng gây hư hỏng. H tiếp tục quay xuống nhà bếp dùng búa đập vào mặt trên cái bếp ga hiệu Ikura rồi cầm búa đi thẳng lên nhà trên, khi ra đến hàng ba H thấy chiếc xe Sirius của bà H1 dựng ở đây nên H đến đập một cái vào đồng hồ và một cái vào chá đèn chiếu sáng trước xe mô tô Sirius gây hư hỏng. Sau khi thực hiện xong hành vi H chở NLC1, NLC2 đi một xe đi về cửa hàng H. H cất cây búa và ống sắt tại cửa hàng H.
Ngày 20/7/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D ra Quyết định trưng cầu định giá đối với số tài sản hư hỏng mà H gây ra bao gồm: Một cái tivi Toshiba 32 inch, một cái đầu thu kỹ thuật số K+, một cái đầu đĩa hiệu Calistar, một cái amply hiệu Calistar, một cái đèn cạo mủ, một cái máy quạt đứng, một kính tủ kích thước 0,5m x 1,5m, một cái Bếp ga hiệu Ikura, một mặt kính đồng hồ và một chá đèn chiếu sáng trước xe Sirius.
Riêng cái máy giặt Samsung 7,2 kg bà H1 mua trả góp nhưng chưa trả hết và trước khi xảy ra sự việc bà H1 đã trả lại cho H như trong hợp đồng ngày 20/01/2017 (nếu không thanh toán tiền góp đúng hẹn thì bên mua mất hết số tiền đã góp và để cửa hàng thu hồi lại hàng) nên đó là tài sản của H. Vì vậy phần hư hỏng cái máy giặt nêu trên Cơ quan điều tra không đưa vào phần thiệt hại của vụ án để định giá.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D thu giữ vật chứng gồm:
- 01 ti vi nhãn hiệu Toshiba 32 inch màu đen;
- 01 bếp ga nhãn hiệu Ikura màu đen;
- 01 amply nhãn hiệu Calistar màu đen;
- 01 đầu đĩa nhãn hiệu Calistar màu đen;
- 01 đầu thu truyền hình kỹ thuật số K+;
- 01 cái quạt gió nhãn hiệu Skyfan;
- 01 cái máy giặt Samsung 7,2 kg màu trắng;
- 01 cây búa bằng sắt dài khoảng 30cm;
- 01 ống sắt tròn dài khoảng 25cm.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 36/KLĐG ngày 25/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện D kết luận (bút lục 28):
1. Một tivi hiệu Toshiba 32 inch màu đen mua năm 2010 đến hiện tại giá trị còn 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng). Bị đập vỡ màn hình, giá trị thiệt hại 2.000.000 đồng (hai triệu đồng);
2. Một bếp ga nhãn hiệu Ikura màu đen mua năm 2016 đến hiện tại giá trị còn 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng). Bị đập vỡ kính, trị giá thiệt hại 400.000 đồng (bốn trăm ngàn đồng);
3. Một amply nhãn hiệu Calistar màu đen xám mua năm 2016 đến hiện tại giá trị còn 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng). Bị đập hư vỏ, vỡ đèn LED, trị giá thiệt hại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng);
4. Một đầu đĩa nhãn hiệu Calistar màu đen mua năm 2016 đến hiện tại giá trị còn 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng). Bị đập hư vỏ, trị giá thiệt hại 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng);
5. Một đầu thu truyền hình kỹ thuật số K+ mua năm 2010 đến hiện tại giá trị còn 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng). Bị đập hư vỏ, trị giá thiệt hại 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng);
6. Một cái quạt gió nhãn hiệu Skyfan mua năm 2014 đến hiện tại giá trị còn 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng). Bị đập gãy cổ, trị giá thiệt hại 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng);
7. Một cái đèn soi cạo mủ cao su mua năm 2016 bị đập hư hỏng hoàn toàn, trị giá thiệt hại 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng);
8. Một cái chá đèn trước xe Sirius mua năm 2011. Bị đập bể nứt chá đèn không sửa chữa được, trị giá thiệt hại 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi ngàn đồng);
9. Một mặt kính đồng hồ xe Sirius mua năm 2011, bị đập vỡ kính không sửa chữa được, trị giá thiệt hại 60.000 đồng (sáu mươi ngàn đồng);
10. Một kính tủ quần áo kích thước 0.5m x 1.5m bị đập vỡ nát không sửa chữa được, trị giá thiệt hại 140.000 đồng (một trăm bốn mươi ngàn đồng).
Như vậy, tổng cộng giá trị tài sản bị thiệt hại là 4.050.000 đồng (bốn triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H và bị hại H1 không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Bản cáo trạng số 55/KSĐT ngày 03/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Bá Thành H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b, g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): Xử phạt bị cáo Lê Bá Thành H với mức hình phạt từ 06 - 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 – 16 tháng.
- Phần bồi thường dân sự: Bị cáo H đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại bà H1 và ông S với tổng số tiền là 26.900.000 đồng (hai mươi sáu triệu chín trăm ngàn đồng). Tại phiên tòa, bị hại H1 không có yêu cầu bồi thường gì khác.
- Xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 tivi hiệu Toshiba 32 inch màu đen; 01 bếp ga nhãn hiệu Ikura màu đen; 01 amply nhãn hiệu Calistar màu đen xám; 01 đầu đĩa nhãn hiệu Calistar màu đen; 01 đầu thu truyền hình kỹ thuật số K+ và 01 cái quạt gió nhãn hiệu Skyfan: Đây là các tài sản hợp pháp của vợ chồng ông S và bà H1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu là ông S và bà H1 (thông qua người đại diện hợp pháp là bà H1) căn cứ vào Quyết định xử lý vật chứng số 31/QĐ-CSĐT ngày 10/8/2017 (bút lục 86) và Biên bản về việc trả lại tài sản ngày 11/8/2017 (bút lục 87).
+ Đối với 01 máy giặt hiệu Samsung 7,2 kg màu trắng: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bị cáo H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã trả lại tài sản trên cho bị cáo H căn cứ vào Quyết định xử lý vật chứng số 30/QĐ-CSĐT ngày 10/8/2017 (bút lục 88) và Biên bản về việc trả lại tài sản ngày 15/8/2017 (bút lục 89).
+ Đối với 01 cây búa bằng sắt dài khoảng 30cm và 01 ống sắt tròn dài khoảng 25cm: Các tài sản này đều là tài sản hợp pháp của bị hại ông S và bà H1 nên cần trả lại cho bị hại.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H không có ý kiến gì khác, đồng ý đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương theo Cáo trạng số 55/KSĐT ngày 03/10/2017.
Bị cáo H trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Bị cáo rất hối hận, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Bá Thành H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thể hiện: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 09/7/2017, tại nhà của bị hại ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1980, cùng ngụ tại ấp V, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương, bị cáo H đã có hành vi dùng búa đập phá làm hư hỏng đối với một số tài sản của vợ chồng bị hại ông S và bà H1. Bao gồm: 01 tivi hiệu Toshiba 32 inch màu đen; 01 bếp ga nhãn hiệu Ikura màu đen; 01 amply nhãn hiệu Calistar màu đen xám; 01 đầu đĩa nhãn hiệu Calistar màu đen; 01 đầu thu truyền hình kỹ thuật số K+; 01 cái quạt gió nhãn hiệu Skyfan, chá đèn và mặt kính đồng hồ xe Sirius. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 4.050.000 đồng (bốn triệu không trăm năm mươi ngàn đồng). Lời khai nhận của bị cáo H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và người làm chứng cùng với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, bản cáo trạng số 55/KSĐT ngày 03/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Bá Thành H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đơn giản nhưng đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại đượ c phá p luậ t bả o vệ . Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưở ng đế n tình hình an ninh trậ t tự tạ i đị a phương . Bị cáo H là người có đầy đủ năng lực hành vi. Về nhận thức, bị cáo biết việc đập phá làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo bất chấp hậu quả, cố tình thực hiện hành vi vớ i lỗ i cố ý . Hậ u quả là bị cá o đã làm hư hỏng tài sản của bị hạ i ông S và bà H1 với tổng giá trị thiệt hại là 4.050.000 đồng (bốn triệu không trăm năm mươi ngàn đồng) theo bản kết luận định giá tài sản số 36/KLĐG ngày 25/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện D. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện D truy tố bị cáo Lê Bá Thành H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định.
Căn cứ theo điểm h khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội để áp dụng quy định có lợi cho người phạm tội khi có quy định một hình phạt nhẹ hơn. Tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định thêm hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng là hình phạt chính đối với hành vi phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy việc áp dụng hình phạt tiền để xử phạt bị cáo là không phù hợp. Để bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm xâm hại đến quyền sở hữu tài sản thì cần phải xử lý đối với bị cáo bằng hình phạt nghiêm khắc hơn, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm mục đích răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt sau này và giúp phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại với số tiền là 26.900.000 đồng (hai mươi sáu triệu chín trăm ngàn đồng). Bị cáo phạm tội lầ n đầ u thuộ c trườ ng hợ p í t nghiêm trọ ng và hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thiệt hại không lớn. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị hại có yêu cầu xin giả m nhẹ hì nh phạ t cho bị cá o . Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Về tì nh tiế t tăng nặ ng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo H cũng một phần xuất phát từ việc có lỗi của bị hại bà H1 khi đã vi phạm nghĩa vụ chậm thanh toán số tiền góp mua hàng theo như thỏa thuận trong hợp đồng cam kết. Bị cáo H bị truy tố xử phạt ở khung hình phạt không quá 03 (ba) năm về tội ít nghiêm trọng; bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 48 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù sẽ không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo để xử phạt bị cáo H theo quy định tại Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xét ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo H về phần tội danh, điều khoản truy tố và mức hình phạt là có căn cứ và phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầ u gì thêm nên Hộ i đồ ng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 ti ti hiệu Toshiba 32 inch màu đen; 01 bếp ga nhãn hiệu Ikura màu đen; 01 amply nhãn hiệu Calistar màu đen xám; 01 đầu đĩa nhãn hiệu Calistar màu đen; 01 đầu thu truyền hình kỹ thuật số K+; 01 cái quạt gió nhãn hiệu Skyfan và 01 máy giặt hiệu Samsung 7,2 kg màu trắng: Đã giải quyết xong nên không xem xét.
+ Đối với 01 cây búa bằng sắt dài khoảng 30cm và 01 ống sắt tròn dài khoảng 25cm: Đều là các tài sản hợp pháp của bị hại nên trả lại cho bị hại ông S và bà H1.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Bá Thành H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b, g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009):
Xử phạt bị cáo Lê Bá Thành H 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (16/11/2017).
Giao bị cáo Lê Bá Thành H cho Uỷ ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự năm 2010.
2. Trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không xem xét.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 42 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, tuyên:
Trả lại cho bị hại ông S và bà H1 01 cây búa bằng sắt dài khoảng 30cm và 01 ống sắt tròn dài khoảng 25cm.
(Tài sản hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bình Dương quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/10/2017).
4. Án phí:
Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Bá Thành H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/11/2017)./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Phòng PV 27- Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện D; - Công an huyện D; - Chi cục THADS huyện D; - UBND xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Tạo |