vanban.org

Bản án 6

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

{1} Áp dụng biện pháp đưa vào cai nghiện tại Cơ sở Cai nghiện ma túy số 1-phân khu 01, tỉnh Nghệ An (xóm T, xã H, tỉnh Nghệ An) đối với Nguyễn Xuân T.

{2} Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 15 (mười lăm) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện là ngày 02/6/2026. {3} Công an xã H, tỉnh Nghệ An có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An có quyền kháng nghị; Người … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Xuân T"
  • Tòa quyết gì? {1} Áp dụng biện pháp đưa vào cai nghiện tại Cơ sở Cai nghiện ma túy số 1-phân khu 01, tỉnh Nghệ An (xóm T, xã H, tỉnh Nghệ An) đối với Nguyễn Xuân T.
  • Căn cứ chính? Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 40 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 2- NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------
Số 08/2026/QĐ-T1 , ngày 30 tháng 6 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- NGHỆ AN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán- Chủ trì phiên họp: Ông Đinh Loan H

2. Thư ký phiên họp: ông Đinh Xuân Giáp

Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nghệ an và điểm cầu Cơ sở cai nghiện ma túy số 01, phân khu 01 tỉnh Nghệ An; tiến hành phiên họp trực tuyến xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính số 08/2026/QĐ-TA ngày 23/6/2026 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Xuân T. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 16 tháng 7 năm 1995; Nơi cư trú: xóm Đ, xã H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Xuân H1 (đã chết) và bà Đậu Thị L (đã chết); Vợ, con: không: Tiền án, tiền sự, nhân thân: 01 tiền án.

CCCD: 040095012195. Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Hoàng Hải D - Chức vụ: Phó trưởng Công an xã T, tỉnh Nghệ An.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An: ông Trần Hoàng Thắng - Chức vụ: Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Căn cứ vào văn bản đề nghị số 415/ĐN-CNBB ngày 23/6/2026 của Công an xã H- tỉnh Nghệ An, các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ thì người bị đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Nguyễn Xuân T có những hành vi vi phạm như sau:

Ngày 02 tháng 6 năm 2026, Nguyễn Xuân T bị phát hiện có dấu hiệu sử dụng ma túy; T khai nhận có sử dụng ma túy vào ngày 28/5/2026 tại nhà riêng. Ngày 02/6/2026, qua kết quả tets nhanh bằng nước tiểu, xác đinh T dương tính với M. Ngày 06/6/2026, Trạm Y tế N, xã H, tỉnh Nghệ An có phiếu kêt quả xác định tình trạng nghiện Ma túy đối với Nguyễn Xuân T, kết luận Nguyễn Xuân T nghiện ma túy.

Ngày 15 tháng 6 năm 2026, tại Biên bản số 10/BB-VPHC, Nguyễn Xuân T bị Công an xã H- Nghệ An lập "Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế" vì không đăng kí cai nghiện tự nguyện;

Tại văn bản số 415/ĐN-CNBB ngày 23/6/2026 của Công an xã H, tỉnh Nghệ An đã đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 2- Nghệ An xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Xuân T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc số 1, phân khu A, tỉnh Nghệ An.

Tại phiên họp người bị đề nghị không có ý kiến gì thêm nhưng trình bày rõ là nghiện ma túy từ năm 2025, liều lượng sử dụng là 01 lần/1 tuần. Trong biên bản ghi lời khai trình bày muốn được đi cai nghiện để có cơ hội cai nghiện thành công làm người có ích cho xã hội. Tại biên bản lấy lời khai và các tài liệu có tại hồ sơ, Nguyễn Xuân T cũng thừa nhận đã sử dụng trái phép chất ma túy, bản thân đã tự cố cai nghiện nhưng không được mà vẫn tiếp tục sử dụng chất ma túy, ngày sử dụng gần đây nhất là vào ngày 28/5/2026.

Tại phiên họp, đại diện Công an xã H, tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên ý kiến đề nghị tại công văn 415/ĐN-CNBB ngày 23/6/2026, đề nghị Toà án nhân dân khu vực 2- Nghệ An xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Xuân T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; Thẩm quyền, trình tự thủ tục lập hồ sơ cũng như việc thụ lý hồ sơ; ra quyết định và mở phiên họp đúng quy định của pháp luật; đề nghị đưa Nguyễn Xuân T vào cơ sở cai nghiện với thời hạn từ 14 đến 16 tháng là phù hợp quy định tại Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện, đầy đủ chứng cứ vụ việc, ý kiến của Công an xã H, Kiểm sát viên, người bị đề nghị.

XÉT THẤY

{1} Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính; thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ và các tài liệu có tại hồ sơ phù hợp với quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6; Điều 103 Luật xử lý vi phạm Hành chính; Điều 8; Điều 9 Nghị định 221/2013/NĐ- CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Tại phiên họp người bị đề nghị Nguyễn Xuân T thừa nhận trong lời khai có nghiện Ma túy và xin xem xét áp dụng thời gian cai nghiện phù hợp, đủ thời gian để cai nghiện thành công.

{2} Về hành vi vi phạm: Nguyễn Xuân T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2025; T sử dụng gần nhất vào ngày 28/5/2026; chất ma túy thường sử dụng là Methaphetamin, cách sử dụng là hút, liều lượng sử dụng 1 lần/1 tuần.

Xét hành vi của Nguyễn Xuân T tuy không phải là hành vi cấu thành tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng việc nghiện ma túy là nguy hiểm cho bản thân, cho gia đình, cộng đồng và xã hội; xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. T nhận thức được ma túy là chất gây nghiện cao, làm ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của con người nhưng tự cai nghiện không thành công, không đăng kí cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai nghiện tập trung. Như vậy Nguyễn Xuân T thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện.

Căn cứ vào biên bản xét nghiệm chất ma túy kết luận hiện tại T đang nghiện ma túy, loại ma túy Methaphetamin.

Do vậy, Công an xã H- tỉnh Nghệ An đề nghị áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Xuân T vào cơ sở cai nghiện là cần thiết, đúng quy định tại Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Xét tại phiên họp, qua biên bản lấy lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ, Nguyễn Xuân T tự nguyện khai báo hành vi vi phạm của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ nên cần cân nhắc xem xét, áp dụng thời gian cai nghiện phù hợp để T cai nghiện thành công, sớm hòa nhập cộng đồng. Nay thấy cần phải đưa Nguyễn Xuân T vào cơ sở cai nghiện thời gian là 15 tháng, để T có thời gian chữa bệnh, lao động, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện.

{3} Về áp dụng pháp luật: Căn cứ vào điểm d, khoản 2 Điều 6; Điều 95; Điều 96; Điều 103; khoản 2 Điều 105 Luật vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 40; 41; 42 và Điều 43 Nghị định 116/2021/NĐ- CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện đối với Nguyễn Xuân T.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

{1} Áp dụng biện pháp đưa vào cai nghiện tại Cơ sở Cai nghiện ma túy số 1-phân khu 01, tỉnh Nghệ An (xóm T, xã H, tỉnh Nghệ An) đối với Nguyễn Xuân T.

{2} Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện là 15 (mười lăm) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện là ngày 02/6/2026.

{3} Công an xã H, tỉnh Nghệ An có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An có quyền kháng nghị; Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn là 03 ngày làm việc kể từ ngày Toà án công bố quyết định hoặc nhận được quyết định hợp lệ.

{4} Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

Cỡ chữ