- Tranh chấp gì? án hình sự — "N.T.Đ1 và V.Q.K - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? I. Tuyên bố: Đặng Thị Đ1 và Vũ Quang K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 599/2023/HSST Ngày 18/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huy Cương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hải; Bà Trần Thị Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 18/12/2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 522/2023/TL.HSST ngày 30/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 703/2023/QĐXXST-HS ngày 28/11/2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1980 tại tỉnh Hưng Yên; Nơi ĐKNKTT: Thôn M, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; Chỗ ở: Không cố định; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố đẻ: Không xác định được; Mẹ đẻ tên là Đặng Thị T (đã chết); Chồng tên là Nguyễn Kim S (đã chết); Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2003;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Năm 2008 đi cai nghiện bắt buộc.
- Bản án số 40 ngày 24/6/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm đối với bản án số 67 ngày 21/4/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, đã xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong án phạt tù ngày 07/10/2008).
- Bản án số 72 ngày 27/3/2012 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (chấp hành xong án phạt tù ngày 01/9/2017);
Bắt phạm tội quả tang ngày 15/7/2023; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2023 đến nay; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; Có mặt.
2. Vũ Quang K, sinh năm 1977 tại thành phố Hà Nội; Nơi ĐKNKTT: Số A, phố P, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Không cố định; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố đẻ tên là Vũ Văn D (đã chết); Mẹ đẻ tên là Bùi Thị L (đã chết); Vợ tên là Nguyễn Thị T1; Có 01 con sinh năm 2019;
Tiền sự: Không;
Tiền án:
- Bản án số 222 ngày 07/9/1999 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong án phạt tù ngày 18/4/2001, chưa thi hành khoản tiền phạt 20.000.000đ);
Nhân thân:
- Năm 2003 đi cai nghiện bắt buộc.
- Năm 2013 đi cai nghiện bắt buộc.
- Bản án số 256 ngày 18/8/2008 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong án phạt tù ngày 27/10/2010);
- Bản án số 78 ngày 24/3/2016 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong án phạt tù ngày 19/3/2018).
Bắt phạm tội quả tang ngày 15/7/2023; Tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2023 đến nay; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; Có mặt.
Bị hại: Bà MANNION J, sinh ngày 17/11/1958; Quốc tịch: Liên bang Úc (nước AUSTRALIA); Hộ chiếu số PA8398525; Nơi ở tại Việt Nam trước khi xuất cảnh: Số B, 25 phố N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đặng Thị Đ1 (sinh năm 1980; trú tại thôn M, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên) và Vũ Quang K (sinh năm 1977; trú tại số nhà A, phố P, phường T, quận B, Hà Nội) là các đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm, sống lang thang tại địa bàn thành phố Hà Nội. Buổi tối ngày 15/7/2023, Đ1 và K rủ nhau đi vào các tuyến phố Chợ đêm thuộc quận H, Hà Nội với mục đích trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chia nhau. Đến khoảng 20h cùng ngày, khi Đ1 và K đi đến quầy bán túi xách ở trước cửa số nhà B, phố H, phường H, quận H, Hà Nội thì thấy bà MANNION J (sinh năm 1958; quốc tịch Australia; số hộ chiếu PA8398525; là khách du lịch) đang đeo chiếc túi xách trên vai trái. Lợi dụng lúc đông người, bà J đang mua hàng, Đ1 bảo K đứng bên ngoài để cảnh giới còn Đ1 tiến đến gần sát bà J để trộm cắp đồ trong túi xách của bà J. Được dùng tay phải kéo khóa túi xách rồi móc vào trong ngăn giữa túi xách lấy được 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím của bà J. Lấy xong, Đ1 và K nhanh chóng đi bộ về hướng phố H, quận H để tẩu thoát. Cùng thời gian trên, tổ công tác thuộc Công an phường H, quận H (gồm đồng chí Bùi Mạnh C, đồng chí Nguyễn Minh T2 và đồng chí Nguyễn Thành C1) đang làm nhiệm vụ tuần tra, phát hiện Được và K có hành vi trộm cắp điện thoại của bà J nên đã đuổi theo bắt giữ Đ1 và K. Khi bị lực lượng Công an truy đuổi, Đ1 vừa chạy vừa ném chiếc điện thoại của bà J vào quầy hàng bán quần áo tại vỉa hè trước cửa số nhà B, phố H, phường H thì bị tổ công tác bắt giữ. Tổ công tác đã đưa Đ1 và K cùng vật chứng về trụ sở Công an phường H để làm rõ.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của Đặng Thị Đ1 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím đã qua sử dụng (là tài sản của bà Mannion J) và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Galaxy A13 đã qua sử dụng (là tài sản của Đặng Thị Đ1).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 120/KL-HĐĐGTS ngày 16/7/2023 của Hội đồng định giá trong tổ tụng hình sự quận H kết luận: “....01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax 256 GB màu tím, máy đã qua sử dụng có trị giá là 24.000.000đ....”.
Ngày 16/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an quận H đã quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax cho bà Mannion J. Bà HYPERLINK \l "link"\o "<b>Họ và Tên:</b> Mannion Julice"Mannion Jđã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thưòng dân sự.
Tại bản cáo trạng số 495/CT-VKS-P2 ngày 19/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố Đặng Thị Đ1 và Vũ Quang K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Các bị cáo không có ý kiến về tội danh, luật Viện kiểm sát truy tố; Cơ bản khai báo thành khẩn hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà có quan điểm:
+ Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại bà MANNION J.
+ Về trách nhiệm hình sự của bị cáo: Giữ nguyên quan điểm truy tố Đặng Thị Đ1 và Vũ Quang K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị xử phạt mỗi bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.
+ Về trách nhiệm dân sự của các bị cáo: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì khác nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử cơ bản đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về việc vắng mặt của bị hại: Hồ sơ thể hiện bà M đã được nhận lại tài sản bị Đ1 và K trộm cắp. Bà MANNION J là khách du lịch, nhập cảnh ngày 08/7/2023 và hiện đã xuất cảnh khỏi Việt Nam ngày 19/7/2023. Tòa án đã gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử thông qua Cục lãnh sự Bộ N để Cục lãnh sự gửi cho Đại sứ quán Ú tại Hà Nội để thông báo cho bà MANNION J biết. Tại phiên tòa, việc vắng mặt của bà MANNION J không gây trở ngại cho việc xét xử các bị cáo nên căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bà MANNION J.
Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với vật chứng bị thu giữ; phù hợp với Kết luận định giá tài sản bị chiếm đoạt và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 15/7/2023 Đặng Thị Đ1 và Vũ Quang K đi chơi chợ đêm tại các tuyến phố thuộc phường H, H, Hà Nội. Khi đi đến quầy hàng bán túi xách trước cửa số nhà B phố H thì Đ1, K nhìn thấy bà MANNION J là khách du lịch (quốc tịch Úc) đeo túi xách trên vai trái đang mải mua hàng, không để ý trông coi túi xách của mình nên Đ1 bảo K đứng cảnh giới, còn Đ1 áp sát bà MANNION J, lén lút dùng tay móc chiếc điện thoại Iphone 14 Promax 256 GB màu tím trị giá là 24.000.000đ để trong túi của bà MANNION J. Sau khi lấy được điện thoại Đ1 và K định di chuyển về hướng phố H - H thì bị Công an phường H phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Với hành vi phạm tội nêu trên, bản cáo trạng số 495/CT-VKSHN-P2 ngày 19/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã truy tố Đặng Thị Đ1 và Vũ Quang K về tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nên cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Khi lượng hình thấy, Đặng Thị Đ1 và Vũ Quang K là đồng phạm cùng cố ý thực hiện hành vi phạm tội, trong đó Đ1 là người chủ mưu, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội; K là người cảnh giới cho Đ1 trộm cắp tài sản. Nhân thân các bị cáo đều rất xấu, có nhiều tiền án, tiền sự; đối với K còn có 01 tiền án ngày 07/9/1999 Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa thi hành khoản tiền phạt 20.000.000đ nên chưa được xóa án tích, lần phạm tội này đối với K là Tái phạm. Do vậy mức hình phạt đối với các bị cáo phải như nhau.
Tuy nhiên, tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn; tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả bị hại nên giảm một phần hình phạt cho các bị cáo. [4] Biện pháp tư pháp:
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà MANNION J đã nhận lại được toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xét.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Đặng Thị Đ1 điện thoại bị thu giữ trong quá trình điều tra vụ án vì không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
I. Tuyên bố: Đặng Thị Đ1 và Vũ Quang K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
II. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Đặng Thị Đ1 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2023. III. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Vũ Quang K 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2023. IV. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự
- Trách nhiệm dân sự: Bà MANNION J đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì khác. Do vậy không xét.
- Xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Đặng Thị Đ1 01 (một) điện thoại di động có chữ S1 và số IMEI (khe 1): 352192667580103; IMEI (khe 2): 353383127580101.
Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 24/10/2023.
V. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) - án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại bà MANNION J vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án ND tối cao; - Viện kiểm sát ND TP Hà Nội; - Công an TP Hà Nội; - Cục THÁ DS TP Hà Nội; - Trại tạm giam số 1 CA TP Hà Nội; - Bị hại bà MANNION J; - Cục lãnh sự BNG (để giao cho Đại sứ quán Úc tại Hà Nội thông báo cho bà MANNION J biết kết quả xét xử); - Lưu hồ sơ, văn phòng. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huy Cương |