- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? 68, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 598/2021/HNGĐ-ST Ngày 21/12/2021 V/v “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Lan Ngọc
- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Mai Thị Tám
2/ Ông Nguyễn Đình Tuấn
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thùy Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Bà Nguyễn Thị Gấm -
Kiểm sát viên.
Vào ngày 21 tháng 12 năm 2021 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số 14/2021/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 322/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 144/2021/QĐST – HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 361/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự :
Nguyên đơn: Ông Trần Kim K, sinh năm 1983;
Địa chỉ: 151 Đường A, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Bà Trần Thị Th, sinh năm 1980;
Hộ khẩu thường trú: 151 Đường A, Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: 102/9 Đường B, phường D, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Nguyên đơn, ông Trần Kim K trình bày: Ông và bà Trần Thị Th tự nguyện chung
sống từ năm 2008, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 6, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 81 quyển số 1/2008 ngày 04/4/2008. Sau khi kết hôn hai bên chung sống một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm hay cãi nhau, vợ chồng nhiều lần hòa giải, hàn gắn nhưng không thành, hiện ông bà đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn nên ông yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị Th.
Về con chung: Ông Trần Kim K khai có 02 con chung là Trần Hoàng X, sinh
ngày 30/01/2009 và Trần Hoàng D, sinh ngày 28/06/2010. Ly hôn, ông K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu bà Trần Thị Th cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Ông Trần Kim K khai hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông Trần Kim K khai không có.
Bị đơn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn có đơn yêu cầu vắng mặt và vẫn giữ nguyên ý kiến về các yêu cầu
đã trình bày.
Bị đơn, bà Trần Thị Th vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp
lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội
đồng xét xử, những người tham gia tố tụng từ khi vụ án được thụ lý cũng như tại phiên Tòa hôm nay là đúng theo quy định pháp luật.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng: Không có
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Trần Kim K có đơn yêu cầu ly hôn
bà Trần Thị Th. Đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về tư cách tố tụng: Căn cứ Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định
nguyên đơn ông Trần Kim K, bị đơn bà Trần Thị Th.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bà Trần Thị Th có hộ khẩu thường trú và
hiện đang cư trú tại quận Tân Bình nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nguyên đơn khởi kiện bị đơn tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình là đúng thẩm quyền.
Về thủ tục tố tụng: Xét trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập
hợp lệ bị đơn đến Tòa để trình bày ý kiến, tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án lập biên bản ghi nhận về việc không hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét nguyên đơn có đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm nên căn cứ
khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự nên tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về nội dung: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn bị đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ lời khai của nguyên đơn, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, thể hiện từ khi
nguyên đơn nộp đơn ly hôn đến nay, Tòa án đã tiến hành tống đạt để bị đơn trình bày ý kiến cũng như hòa giải nhưng bị đơn vẫn vắng mặt thể hiện bị đơn không tôn trọng pháp luật và không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tình nghĩa vợ chồng là sự thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Nguyên đơn vẫn cương quyết ly hôn thể hiện nguyên đơn không còn tin tưởng; không muốn tiếp tục chung sống với bị đơn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận.
Về con chung: Nguyên đơn khai có 02 con chung là Trần Hoàng X, sinh ngày
30/01/2009 và Trần Hoàng D, sinh ngày 28/06/2010. Ly hôn, ông K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung.
Hội đồng xét xử nhận định: Do bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để trình bày ý
kiến nhưng vắng mặt không lý do, hiện nay nguyên đơn là người đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung, đồng thời theo nguyện vọng của con chung thì cháu cũng có nguyện vọng ở với mẹ do đó xét thấy yêu cầu nuôi 02 con chung của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do nguyên đơn không yêu cầu nên tạm hoãn
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bị đơn.
Về tài sản chung: Ông Trần Kim K khai hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông Trần Kim K khai không có.
Án phí dân sự sơ thẩm do nguyên đơn nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
68, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 19, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83,
Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; căn cứ điểm 1.1 khoản 1 mục II Danh mục án phí (Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016); Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân ông Trần Kim K được ly hôn bà Trần Thị Th.
Về quan hệ con chung: 02 con chung là Trần Hoàng X, sinh ngày 30/01/2009 và
Trần Hoàng D, sinh ngày 28/06/2010. Giao cho ông Trần Kim K được trực tiếp nuôi 02 con chung, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho bà Trần Thị Th do ông Trần Kim K chưa có yêu cầu.
Bà Trần Thị Th được quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà khbà ai được cản trở.
Người không được trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của
pháp luật, Tòa án có thể quyết định người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay
đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu khbà thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Ông Trần Kim K khai hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông Trần Kim K khai không có.
2. Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) do bà Trần Kim K
nộp. Chuyển số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) do ông Trần Kim K đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0068972 ngày 04 tháng 01 năm 2021 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình thành tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân Quận Tân Bình; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị theo luật định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình ; - Viện kiểm sát nhân dân TP.Hồ Chí Minh ; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Lan Ngọc |