vanban.org

Bản án 598/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Trần Duy D.

Về nuôi con chung: Giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Đức D-sinh ngày 09 tháng 12 năm 2013; giao cho anh Trần Duy D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Đức H-sinh ngày 21 tháng 12 năm 2009. Chị Vũ Thị H và anh…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H ly hôn anh D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Trần Duy D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 598/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 24-10-2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Vũ Thị
H và anh Trần Duy D.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Việt Bằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Văn Giản

Bà Nguyễn Thị Kim Anh.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trung Kiên – Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.

Ngày 24-10-2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 488/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết đưa vụ án ra xét xử số 104/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2019/QĐST-HNGĐ ngày 18-10-2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1989; Địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện cư trú tại: Số 1/332 đường Q, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Trần Duy D, sinh năm 1983; Đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện cư trú tại: Số 181 phố H, phường D, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa: Chị H có mặt. Anh D vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 02-9-2019, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Duy D tự do tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2007 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố Nam Định. Quá trình chung sống hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm, không hòa hợp về lối sống, tính cách, vì thế vợ chồng thường xuyên va chạm đánh cãi chửi nhau. Hai bên cũng đã hòa giải nhưng do mâu thuẫn kéo dài đã lâu nên vợ chồng vẫn tiếp tục bất hòa. Do mâu thuẫn gay gắt nên vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi được hai năm nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không hàn gắn đoàn tụ được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Duy D.

2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Chị Vũ Thị H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Trần Đức H, sinh ngày 21 tháng 12 năm 2009 và Trần Đức D, sinh ngày 09 tháng 12 năm 2013. Hiện nay cháu D đang sinh sống với chị còn cháu H đang sinh sống với anh D. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Đức D và nhất trí giao cháu Trần Đức H cho anh D nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

3. Về tài sản, công nợ và nghĩa vụ chung của vợ chồng: Chị Vũ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố N đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với anh Trần Duy D theo quy định của pháp luật nhưng anh Dần không đến làm việc nên không có lời khai tại Tòa án.

Tại đơn đề nghị xác minh quan hệ hôn nhân và con chung do chị H giao nộp, đại diện chính quyền địa phương nơi chị H và anh D cư trú đã xác nhận: Quá trình chung sống chị Vũ Thị H và anh Trần Duy D có mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm tính cách nên hay đánh cãi chửi nhau. Vợ chồng chị H, anh D đã sống ly thân mỗi người một nơi. Về con chung: chị H và anh D có hai con chung là Trần Đức H và Trần Đức D. Nay chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh D, quan điểm của địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo ý kiến của chị H. Cháu Trần Đức H có đơn đề nghị được ở với anh D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Anh Trần Duy D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Duy D.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Vũ Thị H và anh Trần Duy D tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố N nên là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của đương sự và xác nhận của chính quyền địa phương cho thấy: Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, không hòa hợp về lối sống, tính cách, vì thế vợ chồng thường xuyên va chạm đánh cãi chửi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi được hai năm nay. Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ gia đình nhưng anh D không đến Tòa án làm việc, chị H có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải nữa. Điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng của chị H và anh D không còn khả năng hàn gắn, hai bên cũng không có thiện chí hòa giải đoàn tụ gia đình. Hôn nhân hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ xử ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Trần Duy D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về tranh chấp nuôi con chung:

Hiện nay, chị H đang làm nghề tự do nếu phải nuôi cả hai con chung sẽ có khó khăn về điều kiện kinh tế và thời gian chăm sóc con. Mặt khác, cháu Trần Đức H đang sinh sống và có đơn đề nghị được ở với anh D. Cháu H tính đến thời điểm chị H và anh D ly hôn đã trên 07 tuổi nên nguyện vọng này của cháu H cần được ghi nhận theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:“Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con….;trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.” Do đó, đề nghị của chị H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D và giao anh D nuôi dưỡng cháu H; hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp với thực tế, có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, để ổn định cuộc sống và đảm bảo lợi ích của con chung, Hội đồng xét xử có căn cứ giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Đức D-sinh ngày 09 tháng 12 năm 2013, giao cho anh Trần Duy D trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Đức H-sinh ngày 21 tháng 12 năm 2009 là phù hợp và đúng với quy định tại các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vũ Thị H và anh Trần Duy D, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

[4] Về tài sản, công nợ và nghĩa vụ chung của vợ chồng: Chị Vũ Thị H không yêu cầu, anh Trần Duy D không có yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Vũ Thị H là nguyên đơn nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Vũ Thị H và anh Trần Duy D.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Đức D-sinh ngày 09 tháng 12 năm 2013; giao cho anh Trần Duy D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Trần Đức H-sinh ngày 21 tháng 12 năm 2009. Chị Vũ Thị H và anh Trần Duy D, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị Vũ Thị H và anh Trần Duy D đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị H phải nộp 300.000 VND (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0002494 ngày 09 tháng 9 năm 2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh Nam Định.

4. Quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Duy D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ