vanban.org

Bản án 597/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Ngọc Ph.

Về hôn nhân: Ông Trương Ngọc Ph được ly hôn với bà Trần Thị Ngọc H. Giấy chứng nhân đăng ký kết hôn số 38 ngày 17/7/2002 của Ủy ban dân xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Ngọc Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 597/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 21 - 12 - 2022
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CP, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Bờ;

Bà Trương Thị Thu Thuỷ.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Tr - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện CP, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CP tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CP xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 430/2022/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 442/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trương Ngọc Ph, sinh năm 1979. (Xin vắng mặt)

Trú tại: Ấp Bình H, xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1983. (Vắng mặt)

Trú tại: Ấp Bình H, xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2022 và trong quá trình xét xử nguyên đơn ông Trương Ngọc Ph trình bày: Ông và bà H quen biết, tìm hiểu được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới và chung sống năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình L, huyện CP vào năm 2002. Cuộc sống vợ chồng lúc đầu hạnh phúc, dần về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường hay cải vả nhau, đã ly thân từ năm 2015 đến nay. Nay tình cảm không còn không thể hàn gắn được nên xin ly hôn với bà H. Con chung có 02 con chung tên Trương Thị Quế Tr, sinh ngày 04/12/2000 đã thành niên và có gia đình riêng; Trương Tấn Đ, sinh ngày 18/02/2009 hiện đang ở với bà H, ly hôn ông Ph đồng ý giao cháu Đ cho bà H được tiếp tục nuôi dưỡng, ông Ph không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: không có.

Đối với bị đơn bà Trần Thị Ngọc H, Tòa án đã tống Đ hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng bà H vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà H.

Lời khai của con chung Trương Tấn Đ, sinh ngày sinh ngày 18/02/2009 trình bày: Từ khi ba mẹ ly thân đến nay, cháu ở với mẹ, mẹ nuôi cháu ăn học, nên khi ba mẹ ly hôn cháu xin ở với mẹ.

Tại phiên tòa,

Ông Ph có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà H vắng mặt tại phiên tòa.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện CP phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa thấy rằng hôn nhân của ông Ph và bà H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không Đ được, nên ông Ph yêu cầu ly hôn với bà H là có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Trương Thị Quế Tr, sinh ngày 04/12/2000 đã thành niên và có gia đình riêng; Trương Tấn Đ, sinh ngày 18/02/2009 hiện đang ở với bà H, ly hôn ông Ph đồng ý giao cháu Đ cho bà H được tiếp tục nuôi dưỡng, ông Ph không cấp dưỡng nuôi con. Sau khi vợ chồng ly thân đến nay Đ do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định. Do đó, để ổn định cuộc sống của con chung, theo yêu cầu của ông Đ và nguyện vọng của cháu Đ muốn ở với bà H nên đề nghị giao cháu Đ cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đối với con chung Trương Thị Quế Tr, sinh ngày 04/12/2000 đã thành niên và có gia đình riêng nên đề nghị không xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Ph không cấp dưỡng nuôi con chung, bà H không có ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên đề nghị không xem xét.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị Ngọc H có hộ khẩu thường trú tại xã Bình L, huyện CP. Ông Ph khởi kiện xin ly hôn, Tòa án nhân dân huyện CP thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Nguyên đơn ông Trương Ngọc Ph có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Trần Thị Ngọc H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Ông Ph và bà H chung sống với nhau vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang nên được pháp luật công nhận là vợ chồng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8; khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Sau khi kết hôn ông bà có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng thời gian sau xảy ra mâu thuẫn, cải vả nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 đến nay, hiện nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên ông Ph xin ly hôn với bà H. Quá trình giải quyết vụ án, ông Ph đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, còn bà H không có ý kiến. Hội đồng xét xử xét thấy ông Ph và bà H đều không có ý định hàn gắn quan hệ vợ chồng, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không Đ. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Ph.

- Về con chung: Ông Ph và bà H chung sống có 02 con chung tên Trương Thị Quế Tr, sinh ngày 04/12/2000 đã thành niên và có gia đình riêng; Trương Tấn Đ, sinh ngày 18/02/2009 hiện đang ở với bà H, ly hôn ông Ph đồng ý giao cháu Đ cho bà H được tiếp tục nuôi dưỡng, ông Ph không cấp dưỡng nuôi con. Xét, từ khi ly thân đến nay cháu Đ do H chăm sóc, nuôi dưỡng ổn định và cháu Đ có nguyện vọng muốn được ở với bà H. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung tên Trương Tấn Đ cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Ph có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; quyền nuôi con là không cố định. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Đối với Trương Thị Quế Tr, sinh ngày 04/12/2000 đã thành niên, có khả năng lao động được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Ph không cấp dưỡng nuôi, bà H không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Ông Ph phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẻ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Ngọc Ph.

Về hôn nhân: Ông Trương Ngọc Ph được ly hôn với bà Trần Thị Ngọc H.

Giấy chứng nhân đăng ký kết hôn số 38 ngày 17/7/2002 của Ủy ban dân xã Bình L, huyện CP, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Giao con chung tên Trương Tấn Đ, sinh ngày 18/02/2009 cho bà Trần Thị Ngọc H được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà H cùng với các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Ph trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nợ chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Ông Trương Ngọc Ph phải chi ̣u 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) án

̀ phi Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghin đồng) ta ̣m

́

̀ ứ ng án phi đa nô ̣̃ p theo biên lai thu số 0004787 ngày 28 tháng 9 năm 2022 của Cu ̣c

́ thi hành án dân sự huyện CP.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống Đ hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ