vanban.org

Bản án 596/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 09/08/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn L1; giữ nguyên toàn bộ quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn L1 được miễn án phí hành chính phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 07/2023/HC-ST Tuyên án 17/05/2023
Phúc thẩm — đang xem Bản án 596/2023/HC-PT Tuyên án 09/08/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "NKK: Nguyễn Văn L1 - NBK: UBND tỉnh Nghệ An, Văn phòng Đk đất đai tỉnh Nghệ An"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn L1; giữ nguyên toàn bộ quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
  • Căn cứ chính? Quyết định số 57/2019/QĐ-UBND Ban hành bảng giá đất trên địa…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 596/2023/HC-PT
Ngày: 09/8/2023
V/v “Khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trọng;

Các thẩm phán:

Bà Vũ Thị Thu Hà;

Bà Hoàng Thị Bích Hải.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hải An - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 09 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số 512/2023/TLPT-HC ngày 05 tháng 07 năm 2023 về “khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8610/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1950; địa chỉ: Số 7, ngõ 51, đường NH, phường M1, thành phố V1, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người bị kiện:

1. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An; địa chỉ trụ sở: Số 3, đường T1, thành phố V1, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ1, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An. Có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Nghệ An; địa chỉ trụ sở: Số 71, Đại lộ L2, thành phố V1, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Công T2, chức vụ: Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Nghệ An. Có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

3. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Quốc T3, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1. Có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chi cục Thuế thành phố V1, tỉnh Nghệ An; địa chỉ trụ sở: Số 29 đường M1, thành phố V1, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phương Đ2, chức vụ: Đội trưởng Đội Trước bạ Thu khác. Có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bà Phạm Thị L3, sinh năm 1949; địa chỉ: Số 7, ngõ 51, đường NH, phường M1, thành phố V1, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Văn L1 trình bày:

Năm 1992, gia đình ông mua của gia đình bà Trương Thị N1, ông Võ Đình H1 thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11. Cạnh thửa đất này có rẻo đất sình lầy nằm sát mương đất LT (mương B1) có kích thước diện tích 1,9m x 15m = 28,5m2, Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) phường M1 bán, thu tiền 1.140.000 đồng, đã nộp vào ngân sách theo hóa đơn, phiếu thu số 47 ngày 05/02/1994 (28,5m2x 40.000đ = 1.140.000đ).

Tháng 02 năm 1994, gia đình ông đã hoàn tất thủ tục mua bán với gia đình bà N1 và Nhà nước (28,5m2), theo hóa đơn chứng từ đã được trình nộp. Nay gia đình ông làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Nghệ An đã yêu cầu ông phải nộp thêm tiền tại Công văn trả lời công dân số 1645/VPĐK-ĐK&CGCN ngày 30 tháng 12 năm 2020 (về việc phê duyệt giá đất ở thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11, phường M1, thành phố V1, tỉnh Nghệ An tại thời điểm năm 1994) của UBND tỉnh Nghệ An đối với phần rẻo đất 28,5m2” (đất trũng, sình lầy, nằm sát mương đất LT, không có đường đi ra đường ĐCT, ngõ hẹp, lầy lội, lối thứ 4 để đi ra đường NH, chúng tôi phải nạo vét, cải tạo, san lấp, bồi đắp để sử dụng chứ không phải mảnh đất sạch nguyên thổ). Đến năm 2002 mương đất mới được bê tông hóa và đậy nắp. Cả quá trình dài 8 năm, vị trí thửa đất gia đình ông ở chịu sự hôi thối, ô nhiễm của nước thải và xác động vật chết thối rữa. Theo Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 mức giá cho rẻo đất 28,5m2 thời điểm năm 1994 (tháng 02) 130.000đ/m2 là không đúng thực tế và bản chất giá trị của rẻo đất 28,5m2 đã được định giá mua bán 40.000đ/m2 và thu giá thành tiền 1.140.000đ cho rẻo đất nộp vào Ngân sách, căn cứ theo hóa đơn của Cơ quan Thuế.

Ngày 19/8/2022, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 291/QĐ-UBND về điều chỉnh Điều 1 của Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020. Quyết định số 291/QĐ-UBND cũng như Quyết định số 569/QĐ-UBND đều có nội dung để áp dụng một lần cho một đối tượng, áp giá thu tiền sử dụng cho rẻo đất sình lầy cũng như thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11 của gia đình đã được mua bán với chính quyền, đã nộp tiền vào ngân sách nhà nước. Gia đình ông đã hoàn tất mọi nghĩa vụ tài chính trong giao dịch dân sự. Vì vậy, Quyết định nêu trên để thu tiền sử dụng đất (khấu trừ trong 28m2 giao dịch mua bán) là không đúng thực tế.

Vì vậy, ông Nguyễn Văn L1 khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An: Huỷ Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND tỉnh Nghệ An về phê duyệt giá đất ở thửa đất số 182 tờ bản đồ số 11, phường M1, thành phố V1; huỷ Quyết định số 291/QĐ-UBND ngày 19/8/2022 của UBND tỉnh Nghệ An về điều chỉnh Điều 1 của Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020; huỷ Công văn trả lời công dân số 1645/VPĐK-ĐK&CGCN ngày 13/9/2021 giải quyết đơn thư của ông Nguyễn Văn L1; buộc các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ, công vụ là cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông.

Ngày 20/3/2023 và ngày 01/4/2023, ông Nguyễn Văn L1 có đơn bổ sung nội dung khởi kiện, yêu cầu hủy Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính số 14925/PCTTĐC ngày 07/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1, tỉnh Nghệ An. Lí do khởi kiện: Phần diện tích phải nộp tiền sử dụng đất 16,32m2 đất ở (trong đó có 14,32m2 mua của UBND phường năm 1994) tại trang 1 dòng 17, 18 từ dưới lên của Phiếu chuyển thông tin là không đúng thực tế bởi thửa đất này gia đình ông đã mua của Nhà nước với phiếu thu nộp vào ngân sách với giá 1.140.000 đồng tại thời điểm năm 1994.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị L3 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L1.

Đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện UBND tỉnh Nghệ An trình bày:

Ngày 30/12/2020, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 569/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất ở thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11, phường M1, thành phố V1 tại thời điểm năm 1994 với mức giá là 130.000 đồng/m2 trên cơ sở kết luận của Hội đồng thẩm định giá đất tỉnh. UBND tỉnh đã căn cứ Quyết định số 308-QĐ/UB ngày 23/4/1994 của UBND tỉnh ban hành bảng quy định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi thì khung giá chuẩn tối thiểu các loại đường phố của thành phố V1 được phân theo 4 loại đường, mỗi đường quy định 4 vị trí (đường loại 1 có mức giá tối thiểu từ 260.000 đồng/m2 đến 2.600.000 đồng/m2; đường loại 2 có mức giá tối thiểu từ 190.000 đồng/m2 đến 1.950.000 đồng/m2; đường loại 3 có mức giá tối thiểu từ 130.000 đồng/m2 đến 1.300.000 đồng/m2; đường loại 4 có mức giá tối thiểu từ 70.000 đồng/m2 đến 710.000 đồng/m2).

Trong đó vị trí được quy định như sau:

Vị trí 1: là những khu đất gần ngã ba, ngã tư, gần chợ, bến xe, nhà ga, nơi tập trung kinh doanh thương mại, có khả năng sinh lợi cao nhất, đặc biệt thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.

Vị trí 2: là những khu đất có điều kiện sinh lợi cao, có giá thị trường cao, thuận lợi cho việc sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.

Vị trí 3: là những khu đất có điều kiện sinh lợi trung bình, có giá trị thị trường trung bình, có điều kiện tương đối thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và sinh hoạt.

Vị trí 4: là những khu đất còn lại.

Thửa đất UBND thành phố V1 đề nghị phê duyệt giá tại thời điểm năm 1994 có vị trí thuộc thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11 (theo bản đồ hiện trạng), phường M1, thành phố V1, bám ngõ đường NH. Trên cơ sở xác nhận của UBND thành phố V1 tại Công văn số 6026/UBND-TCKH ngày 19/10/2020 thì tại thời điểm năm 1994 thửa đất của ông L1 có một phần diện tích là đất thấp, sình lầy.

Căn cứ theo Quyết định số 308-QĐ/UB ngày 23/4/1994 của UBND tỉnh, Hội đồng thẩm định giá đất tỉnh đã thông qua mức giá của thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11 tại thời điểm năm 1994 bằng mức giá tối thiểu của vị trí 4 đường loại 3 là 130.000 đồng/m2 (có xét đến yếu tố thửa đất có phần diện tích là đất thấp, sình lầy).

Ngày 19/8/2022, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 291/QĐ-UBND điều chỉnh Điều 1 của Quyết định 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 thì giá đất ở thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11, phường M1, thành phố V1 tại thời điểm năm 1994 là 83,333 đồng/m2 trên cơ sở rà soát lại tờ khai chuyển dịch lệ phí trước bạ 1994 của cơ quan thuế đối với thửa đất của ông L1 và đề nghị của UBND thành phố V1, là đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và đúng quy định của pháp luật. UBND tỉnh Nghệ An giữ nguyên Quyết định số 291/QĐ-UBND ngày 19/8/2022 về mức giá và giữ nguyên các nội dung khác tại Quyết định 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020; đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn L1.

Đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Nghệ An trình bày:

Căn cứ ban hành Công văn số 1645/VPĐKĐK&CGCN ngày 13/9/2021 giải quyết đơn thư của ông Nguyễn Văn L1 gồm:

- Hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận của ông Nguyễn Văn L1 tại thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11 phường M1, thành phố V1 và đã được UBND phường M1 xác nhận; trong đó có 28,0m2 đất được UBND phường M1 cấp năm 1994.

- Căn cứ vào các quy định pháp luật gồm: Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định; Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính; Thông tư liên tịch số 88/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22/6/2016 của Bộ Tài Chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường; Điều 13 của Quyết định số 16/2018/QĐ-UBND của UBND tỉnh Nghệ An về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, đất vườn, ao gắn liền với đất ở trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Do việc UBND phường M1 bán đất cho bà Phạm Thị L3 là trái thẩm quyền. Để có cơ sở công nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà L3, UBND phường M1 đã lập hồ sơ lên UBND thành phố V1 để quy đổi diện tích cho gia đình ông L1 trên cơ sở giá đất của UBND tỉnh. Gia đình ông L1 còn phải nộp thêm tiền đối với diện tích 19,3m2. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1 chuyển thông tin địa chính cho Chi cục Thuế thành phố V1 để xác định nghĩa vụ tài chính là đúng quy định nên Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Nghệ An giữ nguyên Công văn số 1645/VPĐKĐK&CGCN ngày 13/9/2021 giải quyết đơn thư của ông Nguyễn Văn L1.

Đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1 trình bày:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 3 của Luật Tố Tụng Hành Chính thì đối tượng khởi kiện vụ án hành chính được hiểu như sau:

“1. Quyết định hành chính là Công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện việc quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.

2. Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.

Như vậy, Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai là Công văn hành chính, nhưng chưa làm phát sinh nghĩa vụ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nên không thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Do đó, Chi nhánh thấy việc ông Nguyễn Văn L1 khởi kiện bổ sung, yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An huỷ Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 14925/PCTTĐC ngày 07/11/2022 là không có cơ sở.

Đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thuế thành phố V1 trình bày:

Chi cục Thuế thành phố V1 nhận được Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 14925/PCTTĐC ngày 07/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1 và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn L1 – bà Phạm Thị L3 thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11 tại khối TM, phường M1, thành phố V1, tỉnh Nghệ An; Mục 16 phần I có ghi rõ: “Loại thủ tục cần xác định nghĩa vụ tài chính: Cấp giấy chứng nhận lần đầu";

Mục 2.1.4 phần II có ghi: "Diện tích thửa đất: 157,9m2 (Đất ở đô thị 150m2; Đất trồng cây hàng năm 7,9m2)

Diện tích phải nộp tiền sử dụng đất 16,32m2 đất ở trong hạn mức (trong đó có 14,32m2 mua của UBND phường năm 1994; 2,0m2 lấn chiếm sau 15/10/1990 trước 01/07/2004).

Diện tích đất trong hạn mức: 16,32m2

Chi cục thuế thành phố V1 căn cứ pháp lý để ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn L1 như sau:

Căn cứ Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 14925/PCTTĐC ngày 07/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1, với nội dung thu tiền sử dụng đất 16,32m2 đất thủ tục cần xác định nghĩa vụ tài chính: Cấp giấy chứng nhận lần đầu.

Căn cứ khoản điểm b khoản 3 Điều 12 Thông tư số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22 tháng 6 năm 2016 quy định về hồ sơ và trình tự, thủ tục tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất quy định trách nhiệm của cơ quan thuế:

“…

Thời hạn xác định và ban hành Thông báo như sau:

- Không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đối với trường hợp không có Khoản mà người sử dụng đất được trừ vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp.

…”

Căn cứ giá đất tính thu tiền sử dụng đất theo Quyết định số 57/2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của UBND tỉnh Nghệ An, thửa 182, tờ bản đồ 11, phường M1 có mức giá 7.000.000 đồng/m2.

- Căn cứ Khoản 2, Điều 7 Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất (cấp Giấy chứng nhận) cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất đã sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều 100 Luật đất đai:

“Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở mà tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 22 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai nhưng nếu được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thì phải nộp 100% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại Bảng giá đất đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở

…”

- Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 8 Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất (cấp Giấy chứng nhận) cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất ở có nguồn gốc được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004:

“Trường hợp sử dụng đất có nhà ở ổn định trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất, khi được cấp Giấy chứng nhận thì thu tiền sử dụng đất như sau:

...

Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì thu tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở theo giá đất quy định tại Bảng giá đất…”

Ngày 08/11/2022 Chi cục thuế thành phố V1 ban hành: Thông báo số LTB2240301-TK0060689/TB-CCT về việc thông báo nộp tiền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn L1, số tiền phải nộp là 50% x 14,32m2 x 7.000.000đ = 50.120.000 đồng (Theo điểm c, khoản 1, Điều 8, Nghị định 45/2014/NĐ-CP) và Thông báo số LTB2240301-TK0060690/TB-CCT về việc thông báo nộp tiền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn L1, số tiền phải nộp là 2m2 x 7.000.000đ = 14.000.000 đồng (Theo khoản 2 Điều 7, Nghị định 45/2014/NĐ-CP) là đúng theo quy định của pháp luật hiện hành.

Quá trình đối thoại, các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình, không thống nhất được quan điểm giải quyết vụ án.

* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 173, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng Hành chính; Luật Tổ chức chính quyền địa phương; Điều 114 Luật đất đai năm 2013; Điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; điểm c, khoản 1, Điều 8 Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ; Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 348 Luật tố tụng Hành chính; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu huỷ Công văn trả lời công dân số 1645/VPĐKĐK&CGCN ngày 13/9/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Nghệ An.

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L1 yêu cầu Tòa án:

- Huỷ Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND tỉnh Nghệ An về phê duyệt giá đất ở thửa đất số 182 tờ bản đồ số 11, phường M1, thành phố V1 và huỷ Quyết định số 291/QĐ-UBND ngày 19/8/2022 của UBND tỉnh Nghệ An điều chỉnh Điều 1 của Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020; hủy Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính số 14925/PCTTĐC ngày 07/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1, tỉnh Nghệ An

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 31/5/2023, người khởi kiện là ông Nguyễn Văn L1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Văn L1 trình bày: tháng 02 năm 1994 gia đình ông đã hoàn tất thủ tục mua bán với gia đình bà N1 và Nhà nước diện tích 28,5m² có hóa đơn chứng từ. Phần rẻo đất 28,5m² trước đây là đất trũng sình lầy nằm sát mương đất LT không có đường đi ra đường ĐCT, ngõ hẹp lầy lội, gia đình ông đã phải nạo vét, cải tạo, san lấp bồi đắp để sử dụng, chứ không phải mảnh đất sạch nguyên thổ. Đến năm 2002 mương đất mới được bê tông hóa và đậy nắp, trong suốt quá trình 8 năm vị trí thửa đất gia đình ông ở chịu sự ô nhiễm của nước thải, theo quyết định phê duyệt ngày 30/12/2020 mức giá cho rẻo đất 28,5m² là 130.000đ/m2 là không đúng thực tế và bản chất giá trị của rẻo đất 28,5m² đã được định giá mua bán 40.000đ/m2 và thu thành giá tiền là 1.140.000đ cho rẻo đất nộp vào ngân sách còn có hóa đơn của cơ quan thuế. Như vậy gia đình nhà ông đã nộp một lần tiền và nay lại phải nộp một lần tiền nữa là không đúng quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có ý kiến về việc tuân theo quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, việc tranh tụng tại phiên toà của Hội đồng xét xử được tiến hành đúng theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện và chấp hành quyền, nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Nguyễn Văn L1, giữ nguyên toàn bộ quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và các đương sự, các quy định pháp luật hiện hành. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định của Luật tố tụng hành chính, thu thập tài liệu chứng cứ, mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, đối thoại và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Người bị kiện là UBND tỉnh Nghệ An, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Nghệ An, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi cục Thuế thành phố V1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bà Phạm Thị L3 (vợ ông L1) vắng mặt lý do bị ốm, ông L1 đề nghị HĐXX vẫn tiến hành xét xử. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 225 của Luật tố tụng hành chính.

Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án, theo quy định tại khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng Hành chính, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý và giải quyết là đúng quy định.

Đơn kháng cáo của Người khởi kiện ông Nguyễn Văn L1 được gửi đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đảm bảo đúng thời hạn, hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại các Điều 204, 205, 206 Luật Tố tụng hành chính, do đó được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn L1: Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã đánh giá và phân tích như sau:

. Đối với Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND tỉnh Nghệ An về phê duyệt giá đất ở thửa đất số 182 tờ bản đồ số 11, phường M1, thành phố V1 và Quyết định số 291/QĐ-UBND ngày 19/8/2022 của UBND tỉnh Nghệ An điều chỉnh Điều 1 của Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020;

Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền: Ngày 21/12/2020, Sở Tài chính Nghệ An đã có Công văn số 4863/STC-QLG&CS gửi UBND tỉnh Nghệ An đề nghị phê duyệt giá đất của phiên họp Hội đồng thẩm định giá đất tỉnh ngày 25/11/2020. Ngày 30/12/2020, UBND tỉnh Nghệ An ban hành Quyết định số 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 về phê duyệt giá đất ở thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11, phường M1, thành phố V1 tại thời điểm năm 1994. Ngày 19/8/2022, trên cơ sở rà soát lại tờ khai chuyển dịch lệ phí trước bạ 1994 của cơ quan thuế đối với thửa đất của ông L1 và đề nghị của UBND thành phố V1, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 291/QĐ-UBND điều chỉnh Điều 1 của Quyết định 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 thì giá đất ở thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11, phường M1, thành phố V1 tại thời điểm năm 1994 là 83.333 đồng/m2 là đúng quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Điều 114 Luật đất đai năm 2013, Điều 12 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Về nội dung của Quyết định: Về nguồn gốc thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11, phường M1, thành phố V1: Theo Giấy xác nhận nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của UBND phường M1 thì ông Nguyễn Văn L1 và bà Phạm Thị L3 là chủ sử dụng thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11 do nhận chuyển nhượng một phần diện tích của bà Trương Thị N1 – ông Võ Đình H1 năm 1982; đất bà N1 được UBND phường M1 cấp đất làm nhà ở năm 1982. Đối với rẻo đất theo phiếu thu số 47 ngày 05/02/1994 mang tên bà Trương Thị N1 nộp tiền xen dắm 28,0m2 với số tiền là 1.140.000 đồng. Do đó, xác định nguồn gốc sử dụng đất phần tích 28,0m2 nhận chuyển nhượng của bà N1 năm 1994 được UBND phường cấp xen dắm vào tháng 02 năm 1994.

Thửa đất UBND thành phố V1 đề nghị phê duyệt giá tại thời điểm năm 1994 có vị trí thuộc thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11 (theo bản đồ hiện trạng), phường M1, thành phố V1, bám ngõ đường NH. Trên cơ sở xác nhận của UBND thành phố V1 tại Công văn số 6026/UBND-TCKH ngày 19/10/2020 thì tại thời điểm năm 1994 thửa đất của ông L1 có một phần diện tích là đất thấp, sình lầy.

Căn cứ theo Quyết định số 308-QĐ/UB ngày 23/4/1994 của UBND tỉnh, Hội đồng thẩm định giá đất tỉnh đã thông qua mức giá của thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11 tại thời điểm năm 1994 bằng mức giá tối thiểu của vị trí 4 đường loại 3 là 130.000 đồng/m2 (có xét đến yếu tố thửa đất có phần diện tích là đất thấp, sình lầy).

Tuy nhiên, trên cơ sở rà soát lại tờ khai chuyển dịch lệ phí trước bạ 1994 của cơ quan thuế đối với thửa đất của ông L1 và đề nghị của UBND thành phố V1, ngày 19/8/2022, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành Quyết định số 291/QĐ-UBND điều chỉnh Điều 1 của Quyết định 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 thì giá đất ở thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11, phường M1, thành phố V1 tại thời điểm năm 1994 là 83,333 đồng/m2. Việc ban hành mức giá này của UBND tỉnh Nghệ An là đúng quy định, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và đúng quy định tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, Quyết định số 308-QĐ/UB ngày 23/4/1994 của UBND tỉnh Nghệ An.

. Đối với Công văn trả lời công dân số 1645/VPĐKĐK&CGCN ngày 13/9/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Nghệ An và Công văn số 1031/CNVPĐK ngày 27/5/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1

Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Nghệ An đã ban hành văn bản thu hồi Công văn số 1645/VPĐKĐK&CGCN ngày 13/9/2021; Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1 đã ban hành văn bản thu hồi Công văn số 1031/CNVPĐK ngày 27/5/2021. Tại phiên toà, ông Nguyễn Văn L1 rút yêu cầu khởi kiện đề nghị Toà án huỷ Công văn trả lời công dân số 1645/VPĐKĐK&CGCN ngày 13/9/2021 giải quyết đơn thư của ông Nguyễn Văn L1; buộc các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ, công vụ là cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện đã rút theo quy định tại Điều 173 Luật Tố tụng Hành chính và không xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính liên quan là Công văn số 1031/CNVPĐK ngày 27/5/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1 là có căn cứ.

. Đối với Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 14925/PCTTĐC ngày 07/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1 và Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2240301-TK0060689/TB-CCT ngày 08/11/2022 của Chi cục Thuế thành phố V1:

Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền: Sau khi nhận được hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Nguyễn Văn L1, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1 đã ban hành Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 14925/PCTTĐC ngày 07/11/2022 gửi Chi cục Thuế thành phố V1. Căn cứ Phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 14925/PCTTĐC ngày 07/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1, với nội dung thu tiền sử dụng đất 16,32m2 đất thủ tục cần xác định nghĩa vụ tài chính: Cấp giấy chứng nhận lần đầu. Căn cứ khoản điểm b khoản 3 Điều 12 Thông tư số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22 tháng 6 năm 2016, ngày 08/11/2022, Chi cục Thuế thành phố V1 ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2240301-TK0060689/TB-CCT cho ông Nguyễn Văn L1 là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Sau khi có Quyết định số 291/QĐ-UBND điều chỉnh Điều 1 của Quyết định 569/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 thì giá đất ở thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11, phường M1, thành phố V1 tại thời điểm năm 1994 là 83,333 đồng/m2, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đã lập phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 14925/PCTTĐC ngày 07/11/2022, trong đó xác định nguồn gốc đất có 3 phần. Đối với phần mua thêm của UBND phường là 28,0m2, có Phiếu thu số 47 ngày 05/02/1994 với số tiền 1.140.000đ; Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V1 đã căn cứ Công văn số 782/TC-KH ngày 04/11/2022 của Phòng Tài chính – Kế hoạch đã quy đổi diện tích đã hoàn thành nghĩa vụ trước thuế là 13,68m2. Chi cục Thuế thành phố V1 đã căn cứ các quy định của pháp luật là điểm c, khoản 1, Điều 8 Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất khi công nhận quyền sử dụng đất (cấp Giấy chứng nhận) cho hộ gia đình, cá nhân đối với đất ở có nguồn gốc được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01 tháng 7 năm 2004:

“Trường hợp sử dụng đất có nhà ở ổn định trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất, khi được cấp Giấy chứng nhận thì thu tiền sử dụng đất như sau:

...

Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì thu tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở theo giá đất quy định tại Bảng giá đất …”

Và căn cứ giá đất tính thu tiền sử dụng đất theo Quyết định số 57/2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của UBND tỉnh Nghệ An, thửa 182, tờ bản đồ 11, phường M1 có mức giá 7.000.000 đồng/m2, Chi cục Thuế thành phố V1 đã ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số LTB2240301-TK0060689/TB-CCT ngày 08/11/2022 xác định số tiền phải nộp là 50% x 14,32m2 x 7.000.000 đồng/m2 = 50.120.000 đồng là đúng quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Văn L1 đã nộp 50.120.000 đồng vào ngân sách nhà nước ngày 14/11/2022 và hoàn thành các nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà nước nên ngày 25/11/2022, UBND thành phố V1 đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DE484799 cho ông Nguyễn Văn L1 và bà Phạm Thị L3 đối với thửa đất số 182, tờ bản đồ số 11 tại khối TM, phường M1, thành phố V1, tỉnh Nghệ An với diện tích 157,9m2.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, cũng như quá trình Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội thụ lý vụ án, ông Nguyễn Văn L1 cũng không cung cấp được tài liệu gì mới do đó những phân tích và đánh giá của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn L1 là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, vì vậy miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông L1.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Văn L1; giữ nguyên toàn bộ quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn L1 được miễn án phí hành chính phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ