vanban.org

Bản án 594/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/06/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Lưu Phương A.

a) Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Lưu Phương A được ly hôn với ông Phạm Nhật Quang Giấy chứng nhận kết hôn số 127 do Ủy ban nhân dân phường Tân Thuận Tây, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/10/2012 cấp không còn giá trị pháp lý.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Lưu Phương A- Phạm Nhật Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Lưu Phương A.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 594/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 05/6/2019.

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Điệp.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Nhung.

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương.

Ngày 05 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh - 26 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 01, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2411/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đặng Lưu Phương A, sinh năm 1984; nơi cư trú: #0907 V, BLK 473 River V, Singapore 248358.

Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Hà T - trong phạm vi được nhận các thông báo, quyết định, bản án liên quan đến việc giải quyết vụ án (văn bản uỷ quyền đã được hợp pháp hoá lãnh sự).

Bị đơn: Ông Phạm Nhật Q sinh năm 1984; nơi cư trú: 7C khu phố 4, Đường 15 Lâm Văn B, phường T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 24/12/2018 và các bản tự khai đã được hợp pháp hóa lãnh sự, nguyên đơn bà Đặng Lưu Phương Anh trình bày: bà và ông Phạm Nhật Q tự nguyện đăng ký kết hôn số 127 ngày 30/10/2012 tại Ủy ban nhân dân Phường Tân Thuận Tây, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu sau khi khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không có khả năng đoàn tụ. Bà xác định tình cảm không còn, xin được ly hôn. Về con chung: Trẻ Phạm Đặng Bảo A, sinh ngày 11/12/2014. Bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận. Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Ông Phạm Nhật Q trình bày: ông đồng ý ly hôn. Ông đồng ý giao con chung cho bà Anh trực tiếp nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận. Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định: 1. Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Đặng Lưu Phương A yêu cầu ly hôn. Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015 quy định: “Vợ chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Bà Đặng Lưu Phương A hiện đang cư trú ở nước ngoài. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. 2. Xét yêu cầu của nguyên đơn: Bà Đặng Lưu Phương A và ông Phạm Nhật Q có đăng ký kết hôn. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà Đặng Lưu Phương A xác định tình cảm không còn, xin được ly hôn. Theo văn bản uỷ quyền ngày 24/12/2018, chữ ký của bà Đặng Lưu Phương A đã được hợp pháp hoá lãnh sự. Nội dung ủy quyền bà đã uỷ quyền cho bà Nguyễn Hà T được thay mặt bà nhận các văn bản tố tụng của Toà án. Các văn bản về việc thụ lý vụ án, về thời gian mở phiên họp hoà giải, xét xử đã được tống đạt hợp lệ nhưng bà A không có văn bản nào khác với ý kiến tại văn bản mà bà đã nộp cho Tòa án ngày 24/12/2018 Toà án đã có Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2414/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/5/2019, thông báo thời gian mở phiên toà là ngày 05/6/2019. Bà Đặng Lưu Phương A và ông Phạm Nhật Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự. Xét thấy, bà A đã cung cấp chứng cứ là các văn bản ghi ý kiến của bà A xác định vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, xin được ly hôn. Các văn bản này đã được hợp pháp hoá lãnh sự nên là chứng cứ có giá trị hợp pháp được công nhận theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Nhật Q đồng ý ly hôn với bà A, không đưa ra giải pháp để vợ chồng đoàn tụ. Đây là cơ sở để xác định cuộc sống chung giữa bà A và ông Q không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Căn cứ khoản 1 Điều 122, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Anh.

Về con chung: hai bên thống nhất bà A trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục trẻ Phạm Đặng Bảo A, sinh ngày 11/12/2014. Không yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: bà A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Căn cứ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 khoản 1 Điều 122 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 26; điểm 1.1, mục 1 phần II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Lưu Phương A.

a) Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Lưu Phương A được ly hôn với ông Phạm Nhật Quang

Giấy chứng nhận kết hôn số 127 do Ủy ban nhân dân phường Tân Thuận Tây, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/10/2012 cấp không còn giá trị pháp lý.

b) Về con chung: Bà Đặng Lưu Phương A được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục trẻ Phạm Đặng Bảo A, sinh ngày 11/12/2014. Hai bên không yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Ông Phạm Nhật Q không trực tiếp nuôi con, được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được ngăn cản ông Quang thực hiện quyền này.

Vì quyền lợi của trẻ chưa thành niên, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ, cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Toà án có thể xem xét quyết định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con. c) Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. 2. Về án phí Dân sự sơ thẩm: bà Đặng Lưu Phương A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền bà Anh đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2017/0046082 ngày 24/01/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đặng Lưu Phương A đã nộp đủ án phí. 3. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. 4. Bà Đặng Lưu Phương A được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, ông Phạm Nhật Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. 5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ