- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1933100461 ngày 27/11/2019.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 593/2022/DS-ST Ngày: 29-7-2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hoàng Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc Lước
2. Bà Bùi Thanh Mai Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thức - Thư ký Tòa án nhân dân quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận H, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số: 60/2021/TLST-DS ngày 19 tháng 01 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2022/QĐXXST-DS ngày 02/6/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2022/QĐST-DS ngày 01/7/2022 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2022/QĐXXST-DS ngày 01/7/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Trụ sở: 266-268 NK, Phường T, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Khương Xuân A, sinh năm 1984. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
(Theo Giấy ủy quyền số 37/2022/UQ-CNQ4 ngày 13 tháng 4 năm 2022)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Trần Hồng B, sinh năm 1993. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: 1220 TS, Phường BO, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31 tháng 12 năm 2020 và quá trình giải quyết vụ án ông Khương Xuân A là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
1. Ngày 26/4/2019, bà Nguyễn Trần Hồng B ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (sau đây gọi tắt là ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng – các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà B, ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số 472074-6200 hạn mức tín dụng là 70.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà B đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 154.619.652 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà B đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 105.869.694 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Sau đó, qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà B vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà B vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 20 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, từ ngày 22/01/2021 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 29/7/2022 Bà B còn nợ các khoản sau: nợ gốc: 63.489.291 đồng; lãi quá hạn: 47.967.458 đồng; tổng cộng: 111.456.749 đồng.
Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà B có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên bà B vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại hợp đồng đã ký.
2. Ngày 27/11/2019, bà B ký hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ với Ngân hàng, chi tiết như sau: Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1933100461 ngày 27/11/2019; số tiền vay: 40.000.000 đồng, dư nợ vay: 27.779.000 đồng; thời hạn vay: 36 tháng; thời điểm trả hết nợ: 27/11/2022; biện pháp bảo đảm: cho vay không có tài sản bảo đảm.
Trong quá trình vay, qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng khách hàng vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà B vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngày 24/10/2020 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 30/12/2020, bà B còn phải thanh toán khoản nợ vay theo hợp đồng số LD1933100461, chi tiết như sau: nợ gốc: 27.779.000 đồng; lãi: 1.398.225 đồng; tổng cộng: 29.177.225 đồng.
Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà B thanh toán các khoản nợ sau: Buộc bà B trả số tiền số tiền tính đến ngày 29/7/2022 là 111.456.749 đồng (trong đó nợ gốc là 63.489.291 đồng, lãi quá hạn là 47.967.458 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 30/7/2022 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/4/2019; Buộc bà B trả số tiền số tiền tạm tính đến ngày 30/12/2020 là 29.177.225 đồng (trong đó nợ gốc là 27.779.000 đồng, lãi quá hạn là 1.398.225 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 30/7/2022 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1933100461 ngày 27/11/2019.
Ngày 29/4/2022, Ngân hàng có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1933100461 ngày 27/11/2019. Ngân hàng xác định chỉ khởi kiện yêu cầu tòa án buộc bà B trả số tiền số tiền tính đến ngày 29/7/2022 là 111.456.749 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 30/7/2022 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/4/2019.
Bà Nguyễn Trần Hồng B là bị đơn, trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa hôm nay đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Trần Hồng B phải thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng số tiền là 111.456.749 đồng (Trong đó nợ gốc còn lại là 63.489.291 đồng, lãi quá hạn tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 47.967.458 đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/4/2019. Giữ nguyên đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1933100461 ngày 27/11/2019.
Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Nguyễn Trần Hồng B phải thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng số tiền là 111.456.749 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/4/2019, chấp nhận yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1933100461 ngày 27/11/2019.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhân dân quận H, Thành phồ Hồ Chí Minh nhận định:
Thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/4/2019. Xét đây là tranh chấp phát sinh trong quan hệ hợp đồng cấp tín dụng của nguyên đơn với khách hàng cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 38 Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm với Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/4/2019 quy định: “Trường hợp có tranh chấp mà các bên không thể giải quyết được bằng thương lượng thì việc tranh chấp sẽ được đưa ra cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo luật pháp của Việt Nam”.
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ghi rõ bị đơn có địa chỉ thường trú là 1220 TS, Phường BO, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ phúc đáp của Công an Phường BO, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung bà B có nơi cư trú cuối cùng tại địa chỉ 1220 TS, Phường BO, quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Thời hiệu khởi kiện:
Các đương sự không yêu cầu xem xét về thời hiệu khởi kiện. Căn cứ vào khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử không giải quyết về thời hiệu khởi kiện.
Sự có mặt, vắng mặt của đương sự:
Ngày 30 tháng 6 năm 2022 đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Việc thu thập chứng cứ:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý; giấy triệu tập; thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa; giấy triệu tâp tham gia phiên tòa cho bị đơn, nhưng bị đơn vẫn không nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ, biên bản hòa giải nguyên đơn khẳng định các chứng cứ đã được giao nộp, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác cung cấp cho Tòa án.
Nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện:
Ngày 29/4/2022 nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nộp đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1933100461 ngày 27/11/2019, việc rút yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 3 và khoản 4 Điều 218, Điều 219 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc của thẻ tín dụng 472074-6200.
Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/4/2019, được lập và có chữ ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Nguyễn Trần Hồng B đủ cơ sở để xác định Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng số 472074-6200, hạn mức sử dụng là 70.000.000 đồng, hình thức đảm bảo là tín chấp cho bà Nguyễn Trần Hồng B. Việc cấp thẻ này được thực hiện theo Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng có hiệu lực từ ngày 04 tháng 01 năm 2018 và được niêm yết tại trang web của nguyên đơn. Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng đây là loại hợp đồng theo mẫu được ký kết đúng theo quy định của pháp luật.
Căn cứ Tóm tắt sao kê và lời trình bày của đại diện nguyên đơn thì trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 154.619.652 đồng và phát sinh các khoản phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí trễ hạn và tiền lãi. Từ tháng 05 năm 2019 đến ngày 24 tháng 12 năm 2020, bị đơn đã thanh toán nhiều lần tổng cộng số tiền là 125.369.694 đồng được trừ vào các khoản phát sinh (Phí, tiền lãi) và tiền giao dịch, thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 23 của Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Trong thời gian này, bị đơn không khiếu nại các thông báo giao dịch, tiền lãi và dư nợ hàng tháng mà vẫn đóng tiền.
Căn cứ Điều 26 của Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng có nội dung: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo hợp đồng. Trong trường hợp này, toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán”. Ngày 22 tháng 9 năm 2020, bị đơn thanh toán số tiền 1.399.862 đồng vào tài khoản thẻ tín dụng 472074-6200, sau đó không tiếp tục thanh toán nên đến ngày 22/01/2021 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Xét, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/4/2019, Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc của thẻ tín dụng 472074-6200 có cơ sở chấp nhận.
Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi quá hạn tính đến ngày 29 tháng 7 năm 2022 và tiền lãi phát sinh từ ngày 30 tháng 7 năm 2022 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng:
Số tiền gốc được chuyển thành nợ quá hạn của thẻ tín dụng 472074-6200 là 63.489.291 đồng bao gồm các giao dịch, phí trễ hạn, lãi, phí rút tiền, phí thường niên được tính đúng theo thỏa thuận của hai bên.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bị đơn, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của thẻ tín dụng 472074-6200 sang nợ quá hạn từ ngày 22 tháng 01 năm 2021 và tiến hành thu hồi nợ vay là đúng theo thỏa thuận của hợp đồng và quy định của Luật Các tổ chức tín dụng.
Căn cứ Quyết định số 935/2019/QĐ-TTT ngày 27/3/2019 và Quyết định số 1775/2022/QĐ-TTT ngày 19/7/2022 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ Thẻ Sbank phát hành tại Việt Nam quy định mức lãi suất áp dụng cho thẻ.
Xét, theo quy định tại khoản 14 Điều 4 và khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14 tháng 4 năm 2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận thì tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức theo quy định của pháp luật. Mức lãi suất của nguyên đơn thỏa thuận với bị đơn phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Từ những nhận định trên, yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 47.967.458 đồng là nợ lãi quá hạn từ ngày 20 tháng 01 năm 2021 đến ngày 29 tháng 7 năm 2022 của thẻ tín dụng 472074-6200 là có cơ sở chấp nhận. Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc từ ngày 30 tháng 7 năm 2022 theo các Điều 22, 23 của Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cho đến khi thanh toán hết nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền là 111.456.749 đồng, trong đó nợ gốc là 63.489.291 đồng, nợ lãi quá hạn là 47.967.458 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Án phí:
Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.572.837 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 14 Điều 4, khoản 2 Điều 91, khoản 1 Điều 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1933100461 ngày 27/11/2019.
2. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với số tiền nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26/4/2019 và Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng.
Buộc bà Nguyễn Trần Hồng B có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền là 111.456.749 (Một trăm mười một triệu bốn trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm bốn mươi chín đồng). Trong đó nợ gốc là 63.489.291 (Sáu mươi ba triệu bốn trăm tám mươi chín nghìn hai trăm chín mươi mốt đồng) và nợ lãi quá hạn từ ngày 20 tháng 01 năm 2021 đến ngày 09 tháng 9 năm 2020 là 47.967.458 (Bốn mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi bảy nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26 tháng 4 năm 2019.
Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Trần Hồng B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.572.837 (Năm triệu năm trăm bảy mươi hai nghìn tám trăm ba mươi bảy đồng).
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 2.723.000 (Hai triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0019635 ngày 18 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 26 tháng 4 năm 2019 và Điều kiện và điều khoản phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có hiệu lực từ ngày 04 tháng 01 năm 2018 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND quận H; - CC THADS quận H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Hoàng Yến (Đã ký vào đóng dấu) |